Mở đầu Gần đây việc nghiên cứu tìm kiếm các loại vật liệu cấu trúc nanô với các đặc tính mới đã đạt đƣợc nhiều thành công đáng kể. Trong đó phải kể đến hƣớng nghiên cứu về các vật liệu biến đổi tính chất quang, dƣới tác dụng của nhiệt độ, gọi là vật liệu nhiệt sắc (themochromic). Đây là một hƣớng nghiên cứu có triển vọng trong việc tận dụng và khai thác nguồn năng lƣợng sạch, không gây ô nhiễm môi trƣờng. Hiện nay, nhiều tập thể khoa học trên thế giới, đặc biệt nhƣ ở Mỹ, Thuỵ Điển, Pháp, Nhật Bản, Đức, v.
đã và đang tập trung nghiên cứu về các loại vậy liệu này và đã phát hiện ra nhiều hiệu ứng mới nhƣ hiệu ứng nhiệt sắc, điện sắc, quang sắc, v. Trên cơ sở đó các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về công nghệ chế tạo các loại linh kiện hiển thị mới, các cửa sổ thông minh (Smart-windows), các chuyển mạch nhiệt - điện - quang, các loại sensor hoá học, sensor khí với độ nhạy và chọn lọc ion cao. Các kết quả nghiên cứu đã mở ra nhiều triển vọng ứng dụng các loại vật liệu này trong khoa học kỹ thuật và đời sống dân sinh. Ở Việt Nam, hƣớng nghiên cứu mới này cũng đã đƣợc triển khai trong khoảng mƣời năm gần đây tại Khoa Vật lý kỹ thuật và Công Nghệ Nanô (Đaị học Công Nghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội), Viện Khoa học Vật liệu (Viện KH&CNVN), Viện Vật lý kỹ thuật (Đại học Bách Khoa), trung tâm Quốc tế đào tạo về Khoa học Vật liệu "ITIMS" (Bộ GDĐT), Khoa Vật lý (Đại học Sƣ phạm Hà Nội), v.
Mặc dù vậy, vật liệu nhiệt sắc VO2 cho đến nay vẫn chƣa trở thành thƣơng phẩm bởi những lí do: Hiệu suất nhiệt sắc chƣa cao, nhiệt độ chuyển pha bán dẫn-kim loại còn khá cao (khoảng 670C so với nhiệt độ phòng – 270C), giá thành còn khá cao… Để giảm nhiệt độ chuyển pha bán dẫn-kim loại, chúng tôi chế tạo màng mỏng VO2 cấu trúc nanô. Bằng phép đo điện trở bề mặt (R) phụ thuộc nhiệt độ xác định đƣợc nhiệt độ chuyển pha (NĐCP) của màng VO2 cấu trúc nanô (65 oC) thấp hơn của VO2 tinh thể khối (67oC). Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài luận văn “chế tạo các màng VO2 cấu trúc nanô và khảo sát tính chất biến đổi nhiệt-điện-quang của chúng”. 9 z Mục đích của luận văn Trên cơ sơ nhƣ đã nêu ở trên, đề tài: “chế tạo các màng VO2 cấu trúc nanô và khảo sát tính chất biến đổi nhiệt-điện-quang của chúng” nhằm tập trung giải quyết một số vấn đề sau: - Nghiên cứu cấu trúc tinh thể, cấu trúc điện tử liên quan đến các tính chất của màng mỏng VO2 cấu trúc nanô.
- Chế tạo vật liệu màng mỏng VO2 cấu trúc nanô bằng phƣơng pháp bốc bay nhiệt và chùm tia điện tử. - Khảo sát tính chất biến đổi nhiệt-điện-quang và công chế tạo vật liệu đem lại màng mỏng có hiệu ứng nhiệt sắc cao. - Trên cơ sở mẫu màng mỏng VO2 chế tạo đƣợc, thiết kế và chế tạo thử linh kiện nhiệt-quang (cửa sổ nhiệt sắc). Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở các kết quả thực nghiệm sẽ tiến hành phân tích, đánh giá để tìm ra các quy luật chung của quá trình nhiệt sắc, tích-thoát ion của màng mỏng VO2 cấu trúc nanô dƣới tác dụng nhiệt.
Các kết quả về tính toán lý thuyết cùng với số liệu thực nghiệm đƣợc tổng kết dƣới dạng các báo cáo và công trình khoa học, hoặc các dữ liệu liên quan. Đặc trưng cấu trúc tinh thể và tính chất của Màng mỏng VO2 cấu trúc nanô (Tổng quan tài liệu) 1. Giới thiệu chung Việc nghiên cứu cơ bản cũng nhƣ thực nghiệm về vật liệu và linh kiện khai thác sử dụng bức xạ năng lƣợng mặt trời đã đƣợc quan tâm đến từ nhiều thập kỷ qua, ví dụ nhƣ các hệ thu bức xạ mặt trời để đun nƣớc nóng, máy phát điện nhỏ, máy chƣng cất nƣớc ngọt, pin mặt trời, v. Cùng với việc sử dụng năng lƣợng gió, sóng biển, khí sinh học, nghiên cứu sử dụng năng lƣợng mặt trời đƣợc xếp vào hƣớng chung là vật lý và công nghệ khai thác và sử dụng năng lƣợng không truyền thống, hay còn gọi là năng lƣợng sạch.
Trong thập kỷ cuối của thế kỷ hai mƣơi trên thế giới đã xuất hiện và ngày càng phát triển một hƣớng nghiên cứu họ vật liệu có khả năng thay đổi tính chất quang dƣới tác dụng của điện trƣờng, ánh sáng hay nhiệt dựa trên nguyên lý của các hiệu ứng tƣơng ứng là điện sắc, quang sắc và nhiệt sắc. Trong số các màng mỏng có tính chất nhiệt sắc mang lại hiệu suất nhiệt sắc cao hơn cả. Một số ứng dụng điển hình của vật liệu nhiệt sắc nhƣ làm cửa sổ năng lƣợng thông minh, bộ đóng ngắt trong hệ vi chuyển mạch thông minh, sensor khí để báo độc, báo cháy. Tính chất nhiệt sắc xảy ra khi có sự sắp xếp lại cấu trúc tinh thể dƣới tác dụng của nhiệt độ.
Morin phát hiện ra vật liệu nhiệt sắc VO2 vào năm 1959 [1], quan sát thấy vật liệu này có tính chất chuyển pha bán dẫn – kim loại (BDKL) tại nhiệt độ 670C, VO2 có cấu trúc tinh thể đơn tà dƣới nhiệt độ chuyển pha và có cấu trúc tinh thể tứ giác trên nhiệt độ chuyển pha. Với những đặc trƣng tiêu biểu nhƣ đƣờng cong trễ nhiệt điện trở, sự thay đổi quan trọng trong tính chất điện và quang nhƣ bƣớc nhảy về độ dẫn và độ phản xạ gắn liền với sự thay đổi về cấu trúc mạng tinh thể, do quá trình chuyển pha BDKL đƣợc gọi là chuyển pha loại I (thay đổi pha cấu trúc). Các tính chất này thể hiện rõ hơn khi VO2 là màng mỏng cấu trúc nanô. Độ dẫn phụ thuộc nhiệt độ của các cấu trúc tinh thể ôxyt vanađi VO, V2O3, VO2 và V3O5 đƣợc thể hiện trên hình [2].
Trong chuyển pha BDKL của đơn tinh thể VO2 độ dẫn có thể tăng lên trên năm bậc. Trong đó VO2 có NĐCP c= 67 (0C) (340K) gần với nhiệt độ phòng hơn cả, do đó sẽ thích hợp cho việc khai thác ứng dụng. Sự phụ thuộc độ dẫn điện vào nhiệt độ của các oxít vanadium Vƣợt qua NĐCP cấu trúc tinh thể của VO2 đƣợc chuyển từ mạng đơn tà (thuộc nhóm không gian P21/ c) sang mạng tứ giác (thuộc nhóm không gian P42/ mnm) với đặc tính bởi các chuỗi nguyên tử cách đều dọc theo trục c. Cấu trúc này có tính chất giống nhƣ kim loại: dẫn điện tốt và phản xạ cao bức xạ vùng hồng ngoại.
Màng mỏng VO2 cấu trúc nanô có chuyển pha BDKL tại nhiệt độ 65 C nhỏ hơn 3 0C so với vật liệu khối, với cấu trúc tinh thể VO2 chuyển 0 từ mạng đơn tà sang mạng tứ giác. Là vật liệu nhiệt sắc có khả năng biến đổi nhiệt quang thuận nghịch. Do vậy, màng mỏng VO2 cấu trúc nanô có triển vọng ứng dụng trong các lĩnh vực nhƣ biến điệu ánh sáng vùng hồng ngoại [3,4], cửa sổ nhiệt sắc thông minh [5], trong các bộ nhớ điện và trong thiết bị chuyển mạch của một vi nhiệt điện [6]…. Cấu trúc tinh thể và điện tử của màng mỏng VO2 cấu trúc nanô 1.
Cấu trúc tinh thể Ở nhiệt độ phòng tinh thể VO2 có cấu trúc mạng thuộc hệ đơn tà (monoclinic), các thông số của ô cơ sở là: a b Hình 1. Hệ mạng đơn tà của màng mỏng VO2 cấu trúc nanô với ô cơ sở (a) và cấu trúc mạng (b) ( V-hình cầu màu đen, O-hình cầu màu trắng) am = 5,7517 A0 , bm = 4,5278 A0, cm = 5,3825 A0 α = γ = 900 ; β = 122,640 ; V = 118,3 a3 ; z = 4 Tại nhiệt độ cao hơn NĐCP (τc = 650C) tinh thể VO2 có cấu trúc mạng thuộc hệ tứ giác (tetragonal), các thông số của ô cơ sở là: at = bt = 4,5278 A0, ct = 2,8758 A0 a b Hình 1. Hệ mạng tứ giác của màng mỏng VO2 cấu trúc nanô với ô cơ sở (a) và cấu trúc mạng (b) (V-hình cầu màu đen, O-hình cầu màu trắng) 13 z α = γ = β = 900 ; V = 59,217 a3 ; z = 2 Khác hẳn cấu trúc đơn tà, trong cấu trúc tứ giác của VO2 có trục đối xứng bậc 4 trùng với trục c, minh họa hình 1. Cấu trúc tinh thể VO2 mạng đơn tà (a) và mạng tứ giác (b) Tuy nhiên xét về mạng không gian có thể nhận thấy các nguyên tử V theo trục c trong mạng đơn tà chỉ cần dịch đi một khoảng cách nhỏ (vào khoảng 0.85 A0) để có hằng số mạng trùng với hằng số mạng trên trục b, khi đó mạng tinh thể trở thành mạng tứ giác [3].
Điều này cho thấy việc chuyển pha đơn tà sang tứ giác đòi hỏi nhiệt năng không lớn lắm, cho nên NĐCP của VO2 không cao nhƣ NĐCP trong các ôxyt vanađi khác. Trong [8,9] cho thấy khi VO2 chuyển cấu trúc về mạng tứ giác thì vùng dẫn và vùng hóa trị gần nhƣ chập lại nhau là do lớp điện tử V d đã phủ lên lớp Op Nói cách khác, pha tứ giác của VO2 không còn tính bán dẫn nữa mà trở thành pha kim loại với độ dẫn và độ phản xạ bức xạ hồng ngoại tăng lên đáng kể. Với tính chất này tinh thể VO2 đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực tự động hóa bằng điều khiển nhiệt – điện – quang. Cấu trúc điện tử của màng VO2 Nhƣ nhiều hợp kim khác, VO2 có cấu trúc điện tử hàm sóng 3d của ion vanađi đƣợc hình thành gần mức Fermi, tuy nhiên lớp phủ này mỏng bởi vì phạm vi không gian của chúng nhỏ.
Nó có thể dùng tƣơng tự nhƣ một hệ đo tham số U/W sự giảm của khí electron, ở đây U là thế năng electron trong phạm vi một ion và W động năng trung bình, độ lớn đƣợc đánh giá bằng bậc của vùng cấm. Nhiều thí nghiệm trên ôxyt vanađi cho thấy U và W tiến tới bậc độ lớn giông nhau trong trƣờng hợp này (1-2 eV), tỉ số của chúng U/W →1 [3]. 14 z Mott thiết lập dải vật liệu thông thƣờng W > U, ví dụ nhƣ bán dẫn cổ điển germani hoặc kiểu kim loại natri. Trong trƣờng hợp W < U, khi một electron di chuyển đến một vị trí kề cạnh, nó bị hãm bởi năng lƣợng tƣơng tác Cu lông của những điện tử còn lại tƣơng ứng có vùng cấm bậc U thì đƣợc gọi là điện môi Mott.
Nếu một nhân tố bên ngoài (áp suất) đƣợc dùng tới làm thay đổi độ lớn của tỉ số U/W để có sự chuyển KL-ĐM, chúng tôi gọi là sự chuyển Mott khi tỉ số này tiến tới ~ 1.