Chương 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU HYDROGEL 1.1 Hydrogel Hydrogel là một polymer cấu trúc không gian ba chiều, các liên kết ngang có thể là liên kết hóa học hoặc vật lý. Cấu trúc này không tan trong nước nhưng có khả năng hấp thụ nước rất tốt, nước trong hydrogel có thể liên kết với các nhóm chức phân cực (ưa nước) hoặc nằm ở các vị trí lỗ trống trong cấu trúc gel [7]. Một định nghĩa khác về vật liệu hydrogel là một polymer có khả năng trương và giữa lại phần lớn nước trong cấu trúc nhưng không hòa tan trong nước [8].
Hoặc một cách khác đơn giản hơn hydrogel là một polymer gel có chứa nước bên trong cấu trúc [9, 10].2 Phân loại vật liệu hydrogel [7] Phân loại theo bản chất nối ngang: Hydrogel hóa học: Liên kết ngang trong cấu trúc polymer là nối cộng hóa trị được hình thành bằng các phản ứng của nhóm chức hoặc trùng hợp. Khả năng hấp thụ nước phụ thuộc vào mật độ nối ngang. 1 : Khâu mạng bằng liên kết hóa học HVTH: Lương Văn Hạnh 2 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú Hydogel vật lý: Nối ngang trong mạng không gian của hydrogel là các liên kết vật lý (liên kết hydro, liên kết Van De Van…). Liên kết vật lý là loại liên kết yếu nên hydrogel loại này chịu ảnh hưởng mạnh của môi trường (nhiệt độ, pH, lực ion, ứng suất).
2: Hydrogel nối mạng bằng liên kết hydro Hình 1. 3: Hydrogel được nối mạng bằng liên kết ion Phân loại theo điện tích của phân tử polymer Hydrogel trung tính: là loại hydrogel mà các mạch phân tử polymer tạo nên không mang điện tích. Hydrogel anion: là loại hydrogel mà mạch phân tử polymer tạo nên có thể mang điện tích âm do bị ion hóa. Hydrogel cation: là loại hydrogel mà mạch phân tử polymer tạo nên có thể mang điện tích dương do bị ion hóa.
HVTH: Lương Văn Hạnh 3 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú Hydrogel lưỡng tính: là loại hydrogel mà các mạch phân tử polymer tạo nên có khả năng thay đổi điện tích âm hay dương tùy theo sự thay đổi của môi trường Hình 1. 4: Tạo hydrogel từ polymer anion và cation Phân loại theo nguồn gốc Hydrogel thiên nhiên và các dẫn xuất của chúng: là các hydrogel được chế tạo từ các nguyên liệu tự nhiên như: agar, alginic acid, pectin, carrageenan … Hydrogel tổng hợp: là các hydrogel được tổng hợp như các: polyester, polyamide, các polymer trùng hợp có các nhóm chức mang tính chất nhạy tác động của môi trường. Ví dụ: polyacrylic acid, polyvinylpyridine… Phân loại theo chức năng Hydrogel phân hủy sinh học. Hydrogel đáp ứng kích thích: hydrogel nhạy nhiệt, nhạy pH… khi có sự thay đổi điều kiện như nhiệt độ hoặc pH thì chúng chuyển từ trạng thái sol sang gel.
Ví dụ như polymer nhạy nhiệt PLA – PEG – PLA, PCL - PLA – PEG – PLA – PCL… Hydrogel siêu thấm hút: là loại hydrogel từ polymer có khả năng trương và giữ lại một khối lượng rất lớn dung môi so với khối lượng của nó. Ví dụ như carboxymethylcellulose sodium (CMC). Phân loại theo thành phần Hydrogel homopolymer: là loại hydrogel hình thành từ một loại polymer như PEG, agar,… HVTH: Lương Văn Hạnh 4 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú Hydrogel copolymer: là loại hydrogel được hình thành từ hai loại polymer khác nhau, như hydrogel từ natri alginate và agar hoặc natri alginate và chictosan. Hydrogel multipolymer: hydrogel được hình thành từ nhiều loại polymer khác nhau như Agar/Na-Alg-graft-PAAm.3 Tính chất của hydrogel a) Trương và khả năng hấp thụ [7] Các mạnh phân tử của hydrogel có lực tương tác với các chất thấp phân tử (thường là nước) và có khuynh hướng đạt đến trạng thái hòa tan hoàn toàn.
Trong khi các liên kết ngang tạo ra lực giữ cấu trúc của hydrogel ổn định, trạng thái cân bằng đạt được khi lực liên kết ngang đủ để giữ lực tách khi các chất thấp phân tử xen vào cấu trúc polymer. b) Tính thấm của hydrogel [7] Tính thấm là khả năng của hydrogel cho các chất khác đi qua. Khả năng thấm của hydrogel phụ thuộc vào cấu trúc của polymer (tính ưa nước hay kỵ nước của monomer), loại chất khâu mạng cũng như mật độ liên kết ngang. c) Tính chất cơ học của hydrogel [7] Độ cứng và độ bám dính của hydrogel phụ thuộc vào mật độ nối ngang.
Hydrogel chứa mật độ nối ngang nhiều có tính cứng, độ bám dính kém và khả năng trương ít. Nếu mật độ nối ngang ít, hydrogel trở nên mềm, bám dính tốt và khả năng trương nhiều. d) Tính chất điện của hydrogel Dẫn điện là khả năng của một môi trường cho phép sự di chuyển của các hạt điện tích qua nó, khi có lực tác động vào các hạt, ví dụ như lực tĩnh điện của điện HVTH: Lương Văn Hạnh 5 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú trường. Sự di chuyển có hướng của các hạt điện tích tạo thành dòng điện.
Cơ chế của chuyển động này tùy thuộc vào vật chất. Sự dẫn điện có thể diễn tả bằng định luật Ohm, rằng dòng điện tỷ lệ với điện trường tương ứng và tham số tỷ lệ chính là độ dẫn điện: j là mật độ dòng điện E là cường độ điện trường σ là độ dẫn điện Trong hệ SI σ có đơn vị chuẩn là S/m (simen trên mét). Độ dẫn điện cũng là nghịch đảo của điện trở suất ρ với σ = 1/ρ, σ và ρ là những giá trị vô hướng. Hydrogel chứa lượng nước bên trong cấu trúc nên có khả năng dẫn điện, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng dẫn điện của vật liệu hydrogel từ natri alginate.
Hàm lượng nước (ở trạng thái bão hòa) trong hydrogel: Nước đóng vai trò là môi trường để các ion tự do dịch chuyển dưới tác dụng của lực điện trường và tạo ra dòng điện, độ dẫn điện tăng lên khi nồng độ của các ion tăng lên. Độ dẫn điện đặc trưng của một số loại nước [11]. + Nước tinh khiết: 5,5.10-6 S/m + Nước uống thông thường: 0,005 – 0,05 S/m + Nước biển 5 S/m Hàm lượng ion tự do có trong vật liệu hydrogel nhiều hay ít ảnh hưởng rất nhiều đến tính dẫn điện của vật liệu. HVTH: Lương Văn Hạnh 6 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú 1.2 Hydrogel từ natri alginate 1.1 Giới thiệu về natri alginate 1.1 Nguồn gốc Alginate hay còn được gọi là algin là một anion polysaccharic cao phân tử có nhiều trong thành tế bào của cây Tảo Nâu được sử dụng trong các ngành công nghiệp thực phẩm như chất tăng độ nhớt.
Muối alginate chiếm khoảng từ 13–54% khối lượng tảo khô. Alginate có khả năng hấp thụ nước lớn từ 200-300 lần để tạo thành dung dịch nhớt, không tan trong alcohol, chloroform, ether và dung dịch nước/alcohol có nồng độ alcohol lớn hơn 30% khối lượng. 5: Tảo nâu (brown algae) HVTH: Lương Văn Hạnh 7 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú Thành phần của alginate trong một số loại tảo được trình bày trong bảng 1. 1: Phần trăm alginate trong cây Tảo Nâu [12] Polymannuronic Polyguluronic Alginate M% G% MG% 35,0 13,0 32,0 38,4 20,7 41,0 Ascophyllum nodosum 37,4 21,4 40,8 40,0 20,0 40,0 43,0 23,0 34,0 Laminaria digitata 49,0 25,0 26,0 Laminaria japonica 36,0 14,0 50,0 40,6 17,7 41,7 Macrocystis pyrifera 36,5 18,5 45,0 HVTH: Lương Văn Hạnh 8 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú 1.1 Quy trình sản xuất natri alginate từ tảo nâu dd Na2CO3 Tảo Nâu Loại kiềm Tách CaCl2 dd Natri Alginate Acid Calci Alginate Acid Alginate Acid Acid Alginate Loại nước dd Na2CO3 dd Na2CO3 Sodium Sodium Alginate Alginate Quá trình calci alginate Quá trình acid alginic Hình 1.
6: Quy trình tổng hợp natri alginate [12] Giải thích quy trình Alginate tồn tại trong cây tảo nâu chủ yếu ở dạng muối calcium của acid alginic ngoài ra còn có muối của các kim loại khác như Mg, K, Na. Dung dịch Na2CO3 được thêm vào để tách các ion như Mg2+, Ca2+ dưới dạng kết tủa MgCO3, CaCO3, dung dịch thu được là natri alginate. Ca(Alg)2 + 2Na2CO3 2NaAlg + CaCO3 HVTH: Lương Văn Hạnh 9 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú Hoặc cách khác là xử lý alginate trong tảo nâu bằng dung dịch acid loãng để chuyển thành acid alginic, sau đó chuyển thành muối natri alginate. Phương pháp này nhanh hơn phương pháp sử dụng Na2CO3.
Ca(Alg)2 + 2H+ 2HAlg + Ca2+ HAlg + Na+ NaAlg + H+ Mục đích giai đoạn này là chuyển alginate thành dung dịch để có thể loại chúng ra khỏi nguyên liệu thô. Giai đoạn này có thể sử dụng để điều khiển trọng lượng phân tử của sản phẩm cuối cùng. Nhiệt độ cao và thời gian chiết tách lâu làm giảm cấp polymer, kết quả là trọng lượng phân tử tạo thành thấp. Theo nghiên cứu thì nhiệt độ ở 50oC và thời gian 2 giờ là tốt nhất cho việc tổng hợp natri alginate trọng lượng phân tử cao.
Quá trình này thường sử dụng Na2CO3 bởi giá thành thấp, thuận lợi cho giai đoạn xử lý tiếp theo. Quá trình xử lý lặp đi lặp lại nhằm loại bỏ hết các ion khác và làm cho sản phẩm natri alginate tinh khiết hơn. Tiếp theo là giai đoạn tách loại bỏ các phần nguyên liệu còn dư và dung dịch natri alginate được cho qua giai đoạn xử lý bằng CaCl2 hoặc bằng Acid để tạo ra natri algiante. Phương pháp tạo acid Alginate Khi acid HCl vào dung dịch natri alginate được chiết lọc tạo ra dạng gel và được tách ra khỏi nước bằng cách tuyển nổi.
Ở giai đoạn đầu cho Na2CO3 vào để loại kiềm, chúng phản ứng với HCl tạo ra bọt khí CO2 làm cho gel alginate nổi lên bề mặt và được tách ra. Thành phần của gel này chủ yếu là nước chiếm 98–99%, chỉ có 1–2 % acid alginic, dùng máy ly tâm để loại nước có thể tăng hàm lượng acid alginic lên 7 – 8 %. Để loại nước tiếp tục dùng hỗn hợp 50/50 nước và cồn để lôi cuốn nước. Sau đó, Na2CO3 dạng rắn cho vào cho đến khi đạt pH mong muốn.
Sản phẩm được đùn tạo hạt và sấy khô. HVTH: Lương Văn Hạnh 10 TỔNG QUAN GVHD: PGS.TS Huỳnh Đại Phú Phương pháp calcium alginate Khi thêm dung dịch muối calxi vào dung dịch natri alginate được chiết lọc tạo ra calcium alginate. Nếu giai đoạn này quá trình trộn tốt tạo ra calxi alginate ở dạng sợi và nếu trộn không tốt tạo thành gel. Calxi alginate ở dạng sợi được tách bằng lưới kim loại và rửa bằng nước để loại bỏ calcium.
Tiếp theo, calxi alginate ở dạng sợi được khuấy trong dung dịch acid để chuyển về dạng acid alginic. Ưu điểm của phương pháp này là giá thành thấp do không dùng ethanol như phương pháp acid alginic.1 Cấu trúc alginate Mạch alginate là multiblock copolymers gồm có poly-D-mannuronic acid (M), poly-L-guluronic acid (G) xen kẽ nhau, có nhiều trong cây tảo Nâu (brown algae). Alginate thường có trọng lượng phân tử trong khoảng từ 32000 – 400000 g/mol.