Tổng quan luận án

Tình trạng phát triển công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt và giao thông đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường nước bởi các kim loại nặng. Kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể con người qua đường tiêu hóa, hô hấp, tiếp xúc qua da và tích lũy sinh học qua chuỗi thức ăn. Ở hàm lượng vượt ngưỡng cho phép, chì (Pb) gây độc cho hệ thần kinh trung ương và ngoại biên, ức chế enzyme chứa nhóm hoạt động hyđro, gây rối loạn tủy xương, viêm thận, cao huyết áp, tai biến mạch máu não và có chu kỳ bán rã trong xương từ 20 đến 30 năm. Cadimi (Cd) can thiệp vào hoạt động của các enzyme liên quan đến kẽm, magie, canxi, gây tổn thương gan, suy giảm chức năng thận, loãng xương, bệnh Itai-Itai và ung thư, với liều lượng gây tử vong khoảng 30 mg. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định nồng độ tối đa trong nước uống đối với Pb là 10 µg/L và Cd là 3 µg/L.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là các phương pháp phân tích hiện đại như quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), phổ khối plasma cảm ứng cao tần (ICP-MS) và quang phổ hấp thụ phân tử (UV-Vis) đòi hỏi chi phí đầu tư thiết bị cao, quy trình vận hành phức tạp và khó triển khai phân tích tại hiện trường. Ngược lại, phương pháp Von-Ampe hòa tan anot (ASV) có ưu điểm thiết bị gọn nhẹ, độ nhạy cao và thời gian đo ngắn. Tuy nhiên, việc sử dụng điện cực giọt thủy ngân bị hạn chế do độc tính, trong khi các điện cực rắn thông thường (than thủy tinh, platin, vàng) chưa biến tính lại có độ nhạy kém. Hướng nghiên cứu biến tính điện cực than thủy tinh bằng vật liệu nano platin hình hoa (PtNFs) nhằm phát hiện đồng thời Pb và Cd trong nước vẫn chưa được khảo sát đầy đủ trong nước.

Đề tài luận án xác định tên: "Nghiên cứu chế tạo điện cực nano platin trên nền glassy cacbon ứng dụng phân tích Pb, Cd trong môi trường nước".

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Nghiên cứu phát triển loại điện cực mới: điện cực glassy cacbon biến tính bởi nano platin hình hoa (PtNFs/GC).
  2. Đánh giá đặc tính của điện cực chế tạo được: cấu trúc điện cực, hình thái học, đặc tính hóa lý bằng các phương pháp hiện đại.
  3. Nghiên cứu, định hướng khả năng ứng dụng vào việc phát hiện, định lượng riêng rẽ và đồng thời cadimi, chì trong môi trường nước bằng phương pháp Von-Ampe hòa tan anot (ASV).

Đối tượng nghiên cứu là quá trình chế tạo điện cực PtNFs/GC và các ion kim loại nặng $Cd^{2+}$, $Pb^{2+}$ trong môi trường nước. Phạm vi không gian lấy mẫu thực nghiệm gồm các thủy vực tự nhiên và nguồn xả thải tại khu vực Bình Định: Hồ Phú Hòa, Đầm Thị Nại, Hồ Núi Một, Sông Hà Thanh, vùng biển ven bờ Quy Nhơn, cùng nước thải Khu công nghiệp (KCN) Nhơn Bình và KCN Phú Tài. Phạm vi thời gian thu mẫu trải dài từ tháng 11/2018 đến tháng 05/2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu sử dụng những kỹ thuật phân tích lượng vết Cd và Pb:

  • Phương pháp UV-Vis: Kỹ thuật tạo phức với đithizon xác định Cd ở pH = 12 và Pb ở pH = 8 - 9 cho giới hạn phát hiện LOD đối với Cd là 34 µg/L, Pb là 56 µg/L [17]. Kỹ thuật tạo phức với thiosemicarbazone tại pH = 6 cho LOD của Pb là 0,00264 µg/L và Cd là 0,00151 µg/L [6]. Li Han và cộng sự [18] phát triển phương pháp quang phổ đạo hàm sử dụng thuốc thử meotetra (3-methoxy-4-hydroxylphenyl) porphyrin kết hợp hóa trắc lượng (chemometrics) để phân tích hỗn hợp $Cu^{2+}$, $Zn^{2+}$, $Cd^{2+}$, $Hg^{2+}$ và $Pb^{2+}$.
  • Phương pháp AAS: Kelber Miranda và cộng sự [19] dùng F-AAS phân tích lá chè, đạt LOD của Cd là 0,05 mg/kg và Pb là 0,68 mg/kg. Kỹ thuật GF-AAS phân tích nước mặt cho RSD từ 3,08% đến 6,11%, LOD của Cd là 0,003 - 0,025 µg/L và Pb là 0,05 - 0,10 µg/L [3].
  • Phương pháp ICP-MS: Zhifeng Yang và cộng sự [20] ghi nhận các tỷ số khối lượng trên điện tích (m/z) của Cd là 111 và Pb là 208, cho phép phân tích nhanh trong 3 - 5 phút với giới hạn phát hiện cỡ ng/L.
  • Phương pháp điện hóa biến tính: Nghiên cứu sử dụng điện cực graphen oxit/oxit sắt từ ($GO/Fe_3O_4$) biến tính 2-CBT đạt LOD của Pb là 0,02 ng/mL và Cd là 0,03 ng/mL [21]. Điện cực $Bi/G/MWCNTs/GC$ đạt LOD của Pb là 0,2 µg/L và Cd là 0,1 µg/L [22]. Điện cực GC phủ polyanilin của Wang và cộng sự (2011) [23] cho LOD của Pb là 0,1 µM và Cd là 0,13 µM. Nghiên cứu của J. Pinilla và cộng sự [26] dùng điện cực đĩa Pt xác định $Hg^{2+}$ có LOD là 2,4 ppb; Albrecht Uhlig (1997) [49] chế tạo vi điện cực mảng platin màng thủy ngân xác định Cd, Pb, Cu.
  • Nghiên cứu chế tạo nano platin: Chen và cộng sự [56] tổng hợp Pt nano dạng sợi qua quá trình polyol; Mayers [58] chế tạo Pt nano dạng ống qua khuôn Se; Doulache và cộng sự [61] điện kết tủa Pt nano hạt tại thế +0,2 V trong 25 s; Shen và cộng sự [50] tạo Pt hình cây 3D bằng phương pháp siêu âm điện hóa; Cheng và cộng sự [62, 63] và Su và cộng sự [73] lắng đọng điện hóa tạo nano Pt hình hoa (FPP) ứng dụng xúc tác điện hóa metanol hoặc cảm biến glucozơ; Yoon và cộng sự [70] trộn 1% nano Pt vào điện cực than bột nhão phát hiện $Cu^{2+}$. Tại Việt Nam, nhóm tác giả Vũ Thị Thu Hà và cộng sự [95] tại Viện Hóa học tập trung nghiên cứu điện cực nano vàng để phân tích Hg, Cu, Pb.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là phần lớn các công trình chế tạo nano Pt trước đây chỉ tập trung vào lĩnh vực phổ Raman, pin nhiên liệu hoặc cảm biến chất hữu cơ. Chưa có công trình khảo sát đầy đủ việc chế tạo nano Pt hình hoa trên nền carbon thủy tinh bằng phương pháp điện hóa thế tĩnh nhằm ứng dụng làm cảm biến điện hóa định lượng đồng thời hai ion kim loại nặng Cd và Pb trong nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết điện hóa hòa tan, phương trình Randles-Sevcik mô tả quá trình khuếch tán bán vô hạn đối với phản ứng thuận nghịch: $$I_p = 2,69 \times 10^5 \times n^{3/2} \times A \times D^{1/2} \times C \times \nu^{1/2}$$ Trong đó $I_p$ là cường độ dòng đỉnh (A), $n$ là số electron trao đổi, $A$ là diện tích hoạt động bề mặt ($cm^2$), $D$ là hệ số khuếch tán ($cm^2/s$), $C$ là nồng độ chất điện hoạt ($mol/cm^3$), và $\nu$ là tốc độ quét thế (V/s).

Luận án áp dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm đáp ứng bề mặt (RSM) dựa trên ma trận bậc hai tâm xoay đầy đủ 4 yếu tố và 5 mức thí nghiệm để tối ưu hóa quá trình phân tích thông qua phần mềm Modde 12.1. Mô hình hồi quy có dạng: $$Y = b_0 + \sum b_i x_i + \sum b_{ii} x_i^2 + \sum b_{ij} x_i x_j$$ Ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy được kiểm định bằng chuẩn Student ($t$), và độ tương thích của mô hình được đánh giá qua chuẩn Fisher ($F$) so với phương sai tái hiện thực nghiệm.

Quy trình thực nghiệm và hệ thống thiết bị gồm:

  • Thiết bị đo điện hóa: Hệ thiết bị phân tích CPAiocHH5B (Viện Hóa học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Hệ 3 điện cực: điện cực làm việc (WE) là GC hoặc PtNFs/GC đường kính 3,0 mm; điện cực so sánh (RE) là Ag/AgCl/KCl bão hòa; điện cực đối (CE) là dây Pt.
  • Thiết bị đặc trưng vật liệu: Kính hiển vi điện tử quét SEM S-4800 (Hitachi), phổ tán xạ năng lượng tia X EDX JSM-6510LV (JEOL), nhiễu xạ tia X XRD D8 ADVANCE (Bruker, bức xạ $CuK_\alpha$, $\lambda = 1,54060 \text{ \AA}$), kính hiển vi lực nguyên tử AFM Solver PRO (NT-MDT).
  • Hóa chất: Tiền chất $H_2PtCl_6$, muối chuẩn Pb, Cd, dung dịch đệm axetat, $H_2SO_4$, $K_3[Fe(CN)_6]$, PBS từ Merck và Sigma.
  • Chế tạo điện cực: Đánh bóng GC bằng giấy nhám siêu mịn, làm sạch siêu âm, hoạt hóa điện hóa ở -1,0 V trong $H_2SO_4$ 0,5 M suốt 200 s. Điện kết tủa platin bằng phương pháp thế tĩnh (potentiostatic) từ dung dịch $H_2PtCl_6$ 1 mM pha trong $H_2SO_4$ 0,1 M.
  • Phương pháp phân tích: Kỹ thuật Von-Ampe hòa tan anot xung vi phân (DPASV).
  • Thu thập và chuẩn bị mẫu thực tế: Mẫu nước được lấy theo TCVN 6663-1:2011 và bảo quản theo TCVN 6663-3:2016, cố định bằng $HNO_3$ đặc đến pH < 2, lọc qua màng 0,45 µm, pha loãng tỷ lệ 1:1 với đệm axetat 0,1 M và phân tích theo phương pháp thêm chuẩn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Kim loại nặng và các phương pháp phân tích

Chương này tập trung trình bày tổng quan lý thuyết về độc tính của các kim loại nặng, nguồn phát sinh chất thải công nghiệp và các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng môi trường nước theo quy chuẩn Việt Nam.

STT Loại mẫu nước Chỉ tiêu Giới hạn cho phép (mg/L) Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng
1 Nước mặt Cd
Pb
0,005
0,02
QCVN 08-MT:2015/BTNMT
2 Nước ngầm Cd
Pb
0,005
0,01
QCVN 09-MT:2015/BTNMT
3 Nước biển ven bờ Cd
Pb
0,005
0,05
QCVN 10-MT:2015/BTNMT
4 Nước ăn uống Cd
Pb
0,003
0,01
QCVN 01-MT:2009/BYT
5 Nước thải công nghiệp Cd
Pb
0,05
0,1
QCVN 40:2011/BTNMT

Tác giả phân tích ưu và nhược điểm của các loại vật liệu điện cực làm việc: điện cực thủy ngân, điện cực màng bitmut, điện cực vàng và các dạng điện cực carbon (GC, carbon bột nhão, sợi carbon, ống nano carbon, graphen). Carbon thủy tinh (GC) được đánh giá là vật liệu nền phù hợp do tính trơ hóa học, độ bền cơ học, khoảng thế hoạt động rộng (+1,2 V đến -0,8 V so với SCE trong môi trường axit) và dòng nền thấp. Đồng thời, chương 1 thiết lập cơ sở toán học của phương pháp quy hoạch thực nghiệm bậc hai tâm xoay nhằm chuẩn bị cho việc tối ưu hóa đa biến quá trình đo điện hóa.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chế tạo, các phép đo khảo sát tính chất điện hóa bằng phương pháp quét thế vòng (CV) trong dung dịch $H_2SO_4$ 0,5 M và hệ oxi hóa khử $Fe(CN)6^{3-/4-}$. Tác giả thiết lập ma trận thực nghiệm bậc 2 tâm xoay gồm 4 yếu tố ảnh hưởng đến cường độ dòng đỉnh hòa tan ($I_p$): pH dung dịch ($x_1$), thời gian điện phân làm giàu $t{dep}$ ($x_2$), thế điện phân làm giàu $E_{dep}$ ($x_3$) và bước nhảy thế $U_{step}$ ($x_4$).

Biến độc lập Ký hiệu Mức sao (-2) Mức thấp (-1) Mức tâm (0) Mức cao (+1) Mức sao (+2)
pH $x_1$ 3,5 4,0 4,5 5,0 5,5
Thời gian điện phân $t_{dep}$ (s) $x_2$ 60 90 120 150 180
Thế điện phân $E_{dep}$ (V) $x_3$ -1,3 -1,2 -1,1 -1,0 -0,9
Bước nhảy thế $U_{step}$ (mV) $x_4$ 4 6 8 10 12

Ma trận thực nghiệm gồm tổng cộng 31 thí nghiệm ngẫu nhiên hóa (16 thí nghiệm nhân tố $2^4$, 8 thí nghiệm điểm sao và 7 thí nghiệm lặp tại tâm). Luận án cũng ghi nhận vị trí địa lý của 10 điểm thu mẫu thực tế phục vụ thử nghiệm ứng dụng:

Ký hiệu Tên mẫu Loại nguồn nước Tọa độ địa lý
DTN1 Mẫu D1 Nước Đầm Thị Nại 13°47'47.0"N - 109°14'05.0"E
HNM3 Mẫu H3 Nước Hồ Núi Một 13°47'18.3"N - 109°10'33.1"E
HPH3 Mẫu P3 Nước Hồ Phú Hòa 13°46'13.7"N - 109°12'47.3"E
SHT2 Mẫu S2 Nước Sông Hà Thanh 13°47'22.1"N - 109°11'36.4"E
SHT3 Mẫu S3 Nước Sông Hà Thanh 13°47'20.0"N - 109°12'04.2"E
NB1 Mẫu N1 Nước thải KCN Nhơn Bình 13°47'51.8"N - 109°13'49.7"E
NB2 Mẫu N2 Nước thải KCN Nhơn Bình 13°47'52.8"N - 109°13'47.1"E
PT2 Mẫu T2 Nước thải KCN Phú Tài 13°47'19.3"N - 109°09'16.6"E
PT3 Mẫu T3 Nước thải KCN Phú Tài 13°47'29.5"N - 109°08'43.0"E
QN3 Mẫu Q3 Nước biển ven bờ Quy Nhơn 13°45'19.7"N - 109°14'01.9"E

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương 3 tập trung phân tích quá trình hình thành lớp nano platin và các tính chất hóa lý của bề mặt điện cực chế tạo được:

  • Khảo sát đường quét CV: Quét thế vòng điện cực GC trong dung dịch $H_2PtCl_6$ 10 mM + $H_2SO_4$ 0,1 M làm xuất hiện ba vùng đặc trưng: vùng hấp phụ và giải hấp hydro (-0,2 V đến +0,15 V), vùng tạo màng platin oxit (+0,8 V đến +1,2 V) và píc khử $Pt(IV) \rightarrow Pt(0)$ tại +0,5 V. Kết quả xác định thế áp điện kết tủa platin cần có giá trị âm hơn +0,3 V. Đường CV của điện cực sau biến tính (Pt/GC) trong $H_2SO_4$ 0,5 M xuất hiện píc khử đặc trưng của platin tại +0,5 V so với Ag/AgCl.
  • Phân tích cấu trúc và thành phần: Giản đồ XRD của điện cực Pt/GC xuất hiện 3 píc tại các góc $2\theta$ lần lượt là 39,9°, 46,2° và 67,5°, tương ứng với các mặt phẳng phản xạ (111), (200), (220) của mạng tinh thể lập phương tâm diện platin (đối chiếu chuẩn JCPDS 01-1194). Phổ EDX xác nhận trên bề mặt điện cực chỉ tồn tại hai nguyên tố C và Pt, không lẫn tạp chất.
Thế điện kết tủa $E_{Pt}$ (V) -0,5 -0,3 -0,2 0,0 +0,2
Tỷ lệ khối lượng Pt (%) 6,30 22,54 19,26 15,28 11,42
Tỷ lệ khối lượng C (%) 93,70 77,46 80,74 84,72 88,58
Tổng tỷ lệ (%) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
  • Hình thái học bề mặt qua ảnh SEM và AFM: Ở thế $E_{Pt} = +0,2\text{ V}$, Pt hình thành các mầm hạt riêng rẽ. Tại -0,2 V, bề mặt GC được phủ kín bằng cấu trúc nano platin hình hoa (PtNFs) với kích thước hạt 50 - 400 nm do sự thoát bọt khí $H_2$ đồng thời trong quá trình kết tủa tinh thể. Khi thế âm hơn (-0,3 V và -0,5 V), khí $H_2$ thoát ra mãnh liệt làm bề mặt xuất hiện nhiều khuyết tật và lộ nền GC, hàm lượng Pt giảm xuống còn 6,30%. Đo AFM ghi nhận độ nhám bề mặt (RMS) của GC chưa biến tính là 672,82 nm; điện cực chế tạo ở +0,2 V có RMS đạt 730,53 nm; và điện cực chế tạo ở -0,2 V đạt RMS cao nhất là 777,09 nm, tương ứng với diện tích hoạt động điện hóa ($A_{hd}$) lớn nhất.
  • Đặc tính khuếch tán: Đo quét thế vòng trên hệ redox $K_3[Fe(CN)_6]$ 0,5 mM / đệm PBS pH = 7 cho thấy píc khử xuất hiện ở +0,2 V và píc oxi hóa ở +0,31 V. Dòng đỉnh $I_p$ tỷ lệ thuận với căn bậc hai tốc độ quét thế ($\nu^{1/2}$), chứng minh quá trình chuyển khối xảy ra theo cơ chế khuếch tán phẳng bao phủ toàn bộ bề mặt chứa các cấu trúc nano.
  • Điều kiện đo DPASV mẫu thực tế: Các thông số tối ưu gồm thế điện phân tích lũy -1,14 V trong thời gian 120 s, biên độ xung 60 mV, bước nhảy thế 7 mV, thời gian làm sạch điện cực 30 s ở thế +0,2 V trong dung dịch nền đệm axetat 0,1 M.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án ghi nhận các kết quả và đóng góp cụ thể về mặt khoa học thực nghiệm:

  • Đóng góp về mặt công nghệ chế tạo: Xây dựng thành công quy trình công nghệ chế tạo điện cực than thủy tinh biến tính nano platin cấu trúc hình hoa (PtNFs/GC) bằng phương pháp điện hóa thế tĩnh (áp thế -0,2 V trong 150 s từ dung dịch tiền chất $H_2PtCl_6$ 1 mM trong $H_2SO_4$ 0,1 M có khuấy). Quá trình kiểm soát thế áp tạo điều kiện cho khí $H_2$ thoát ra đồng thời, định hướng hình thành các cụm hoa nano có kích thước 50 - 400 nm, làm gia tăng độ nhám RMS lên 777,09 nm và nâng cao diện tích hoạt động điện hóa của điện cực.
  • Đóng góp về phương pháp phân tích: Ứng dụng mô hình hóa thực nghiệm bậc 2 tâm xoay kết hợp phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM) để khảo sát ảnh hưởng đồng thời và tương tác giữa 4 thông số kỹ thuật (pH, thế làm giàu, thời gian làm giàu, bước nhảy thế). Xác lập quy trình phân tích Von-Ampe hòa tan anot xung vi phân (DPASV) xác định Pb và Cd trong nước.
  • Ứng dụng thực tiễn: Quy trình phân tích được kiểm chứng trên các mẫu nước thực tế thu thập từ sông, hồ, biển ven bờ và nước thải công nghiệp tại khu vực Bình Định, cung cấp quy trình phân tích điện hóa thay thế cho các phương pháp quang phổ phức tạp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án cho thấy một số giới hạn về mặt phạm vi thực nghiệm:

  • Nghiên cứu chỉ tập trung định lượng hai kim loại nặng là cadimi và chì, chưa mở rộng đồng thời sang các kim loại độc hại khác thường xuất hiện trong nước như asen ($As$), thủy ngân ($Hg$) hoặc kẽm ($Zn$).
  • Đối tượng thử nghiệm mẫu thực tế giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh Bình Định (thuộc các hồ, sông, đầm và khu công nghiệp địa phương) trong giai đoạn cuối năm 2018 đến đầu năm 2019.
  • Chưa khảo sát chi tiết ảnh hưởng của các chất hoạt động bề mặt hoặc các hợp chất hữu cơ cao phân tử có khả năng gây đầu độc bề mặt điện cực platin trong các nền mẫu nước thải công nghiệp phức tạp hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được định hình từ nội dung văn bản là tiếp tục hoàn thiện cảm biến điện hóa, nghiên cứu khả năng mở rộng phân tích đồng thời nhiều ion kim loại khác và nâng cao độ bền hoạt động lâu dài của màng nano Pt trong phân tích hiện trường.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp tài liệu tham khảo cho các đối tượng chuyên môn:

  • Nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Hóa phân tích, Hóa học vật liệu: Tham khảo quy trình chế tạo cấu trúc nano kim loại quý trên nền carbon bằng phương pháp thế tĩnh; phương pháp giải thích các dữ liệu đặc trưng hóa lý bề mặt kết hợp giữa SEM, AFM, XRD và EDX.
  • Nhà nghiên cứu về điện hóa ứng dụng và cảm biến: Tham khảo quy trình thiết kế thực nghiệm bậc hai tâm xoay (RSM) trên phần mềm Modde để tối ưu hóa đồng thời các thông số phân tích điện hóa xung vi phân.
  • Cán bộ kỹ thuật và kiểm soát môi trường: Tham khảo quy trình lấy mẫu, bảo quản theo tiêu chuẩn TCVN và quy trình đo DPASV phát hiện nhanh hàm lượng vết Cd và Pb trong các loại hình mẫu nước mặt, nước biển và nước thải công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao điện thế điện kết tủa platin tại -0,2 V lại tạo ra cấu trúc hình hoa tối ưu nhất? Tại thế -0,2 V, quá trình khử ion $Pt(IV)$ tạo tinh thể platin diễn ra đồng thời với quá trình giải phóng bọt khí hydro ($H_2$). Bọt khí thoát ra đóng vai trò như các vi khuôn định hướng, làm các tinh thể platin phát triển thành các nhánh dạng cánh hoa khít nhau (kích thước 50 - 400 nm) mà không bị kết tụ. Cấu trúc này làm tăng độ nhám RMS lên 777,09 nm, tạo ra diện tích hoạt động điện hóa cao nhất so với các thế kết tủa khác.

2. Thành phần pha tinh thể của nano platin trên điện cực Pt/GC được xác định như thế nào? Giản đồ nhiễu xạ tia X (XRD) của điện cực Pt/GC ghi nhận 3 pic đặc trưng tại các góc $2\theta$ lần lượt là 39,9°, 46,2° và 67,5°. Các góc này tương ứng với các mặt phẳng tinh thể (111), (200) và (220) của mạng lập phương tâm diện platin kim loại theo thẻ chuẩn JCPDS 01-1194. Phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX) xác nhận chỉ có mặt C và Pt trên bề mặt.

3. Cơ chế khuếch tán của chất phân tích trên bề mặt điện cực PtNFs/GC diễn ra theo dạng nào? Phép đo quét thế vòng (CV) trong dung dịch $K_3[Fe(CN)_6]$ cho thấy cường độ dòng đỉnh $I_p$ tỷ lệ thuận tuyến tính với căn bậc hai của tốc độ quét thế ($\nu^{1/2}$). Điều này chứng minh quá trình chuyển khối tuân theo phương trình Randles-Sevcik, diễn ra theo mô hình khuếch tán phẳng bao phủ toàn bộ các hạt nano trên bề mặt điện cực.

4. Bốn biến công nghệ nào được đưa vào ma trận tối ưu hóa thực nghiệm bậc 2 tâm xoay? Bốn yếu tố độc lập được mã hóa gồm: pH dung dịch ($x_1$, từ 3,5 đến 5,5), thời gian điện phân tích lũy $t_{dep}$ ($x_2$, từ 60 s đến 180 s), thế điện phân tích lũy $E_{dep}$ ($x_3$, từ -1,3 V đến -0,9 V) và bước nhảy thế $U_{step}$ ($x_4$, từ 4 mV đến 12 mV). Ma trận gồm 31 thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm Modde 12.1.

5. Quy trình làm sạch điện cực giữa các lần đo DPASV được thực hiện như thế nào? Để hòa tan hoàn toàn lượng vết chì và cadimi còn đọng lại trên bề mặt điện cực sau mỗi chu kỳ đo hòa tan anot, điện cực PtNFs/GC được giữ ở thế làm sạch cố định là +0,2 V ($E_{clean}$) trong thời gian 30 giây ($t_{clean}$) ngay trong dung dịch phân tích.

Kết luận

Luận án đã chế tạo thành công điện cực than thủy tinh biến tính nano platin cấu trúc hình hoa (PtNFs/GC) bằng phương pháp điện hóa thế tĩnh tại -0,2 V. Bề mặt vật liệu được kiểm chứng đầy đủ về hình thái và cấu trúc thông qua ảnh SEM, AFM (độ nhám RMS đạt 777,09 nm), giản đồ XRD (mạng lập phương tâm diện) và phổ EDX. Việc áp dụng mô hình hóa thực nghiệm bậc hai tâm xoay đã xác lập các điều kiện tối ưu cho kỹ thuật Von-Ampe hòa tan anot xung vi phân (DPASV), chứng minh khả năng định lượng riêng rẽ và đồng thời hai kim loại nặng Pb, Cd trong các nguồn nước tự nhiên và nước thải công nghiệp. Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực nghiệm cho việc phát triển các sensor điện hóa phân tích kim loại nặng trong môi trường.