Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong kỹ thuật xây dựng và hoàn thiện công trình dân dụng lẫn công nghiệp, bột mastic (thường gọi là bột bả hoặc bột trét tường) đóng vai trò là lớp vật liệu đệm xử lý bề mặt vữa xây, bê tông nhằm làm phẳng, nhẵn mịn bề mặt và gia tăng tính thẩm mỹ trước khi thi công màng sơn phủ. Lớp bột trét đạt chuẩn kỹ thuật không chỉ nâng cao độ bền màu của sơn mà còn phải đảm bảo khả năng bám dính chắc chắn trên nền vô cơ, chịu được các biến thiên môi trường và tạo điều kiện xả nhám dễ dàng khi thi công. Thị trường vật liệu hoàn thiện tại Việt Nam hiện có sự tham gia của nhiều thương hiệu như Mykolor, Spec, Expo, Jotun, Kova, Dulux, Việt Mỹ... Sự cạnh tranh này đặt ra yêu cầu kỹ thuật đối với các nhà sản xuất là phải tối ưu hóa thành phần cấp phối, tận dụng nguồn khoáng sản sẵn có trong nước như đá vôi để giảm giá thành nhưng vẫn duy trì và cải thiện các chỉ tiêu cơ lý của sản phẩm theo tiêu chuẩn hiện hành.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu chế tạo bột mastic hệ xi măng từ đá vôi" do sinh viên Trần Văn Hậu thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Kiều Đỗ Trung Kiên tại Bộ môn Công nghệ Hóa học, Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung giải quyết bài toán công nghệ chế tạo bột bả tường hệ xi măng - đá vôi kết hợp các hệ phụ gia polymer chuyên dụng.

Theo văn bản giao nhiệm vụ khóa luận, các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định như sau:

  1. Tìm hiểu về đặc điểm, tính chất của bột trét tường.
  2. Phối trộn và khảo sát tỉ lệ cấp phối nền giữa xi măng và bột đá vôi.
  3. Khảo sát cấp phối nền với các phụ gia phù hợp (phụ gia giữ nước và phụ gia bám dính).
  4. Sử dụng các tiêu chuẩn Việt Nam để khảo sát, đánh giá các cấp phối và sản phẩm bột trét tường hoàn chỉnh.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ bột mastic gốc xi măng, bao gồm chất kết dính xi măng Poóc lăng trắng thương mại SCG PCW 50.1 (Thái Lan), chất độn bột đá vôi nội địa, phụ gia giữ nước gốc cellulose ether Curminal C8381 (CHLB Đức) và phụ gia tăng cường bám dính bột tái phân tán Vinavil 5406P (Ý).

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian thực hiện: Toàn bộ quá trình thực nghiệm, chế bị mẫu và đo đạc các chỉ tiêu cơ lý, hóa khoáng được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Trung tâm Kiểm nghiệm Vinacontrol Quận 9 và các phòng thí nghiệm phân tích thuộc Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
  • Thời gian nghiên cứu: Các nội dung thực nghiệm tập trung diễn ra từ ngày 20/02/2020 đến ngày 20/07/2020 (khóa luận hoàn thành bảo vệ vào tháng 09/2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết hóa học silicat và vật liệu xây dựng vô cơ, cụ thể là cơ chế đóng rắn thủy lực của xi măng Poóc lăng và tương tác giữa các pha khoáng với phụ gia polymer. Trong thành phần xi măng trắng, các khoáng clinker chính gồm alit ($C_3S$), belit ($C_2S$), tricalci aluminat ($C_3A$) và calci aluminoferit ($C_4AF$). Quá trình thủy hóa tạo ra hydro silicat canxi (C-S-H), portlandit ($Ca(OH)_2$) và ettringite ($3CaO \cdot Al_2O_3 \cdot 3CaSO_4 \cdot 32H_2O$). Việc đưa bột đá vôi ($CaCO_3$) đóng vai trò chất độn trơ làm đặc cấu trúc, đồng thời tham gia cải thiện mật độ xếp chặt của hệ hạt. Phụ gia polymer gốc carboxylate hoặc vinyl axetat tương tác với ion $Ca^{2+}$ trong dung dịch lỗ rỗng, hình thành màng polymer hữu cơ bọc quanh các tinh thể khoáng, lấp đầy các mao quản rỗng và cải thiện độ bám dính tiếp diện. Bên cạnh đó, phụ gia cellulose ether làm tăng độ nhớt, ngăn chặn sự mất nước nhanh do bốc hơi hoặc do lực hút mao dẫn của bề mặt nền.

Các văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật được tác giả sử dụng làm khung tham chiếu đánh giá bao gồm:

  • TCVN 7239:2014: Bột bả tường gốc xi măng Poóc lăng.
  • TCVN 3121-3:2003: Vữa xây dựng - Phương pháp thử - Xác định độ lưu động của vữa tươi.
  • TCVN 3121-9:2003: Vữa xây dựng - Phương pháp thử - Xác định thời gian đông kết của vữa tươi.
  • TCVN 6017:1995 (ISO 9597): Xi măng - Phương pháp thử - Xác định thời gian đông kết và độ ổn định thể tích.
  • TCVN 6016:2011 (ISO 679): Xi măng - Phương pháp thử - Xác định cường độ.
  • TCVN 4030:2003: Xi măng - Phương pháp xác định độ mịn.
  • TCVN 5691:2000 và TCVN 6067:2018: Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho xi măng Poóc lăng trắng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo quy trình đa giai đoạn, kết hợp các phép đo kiểm cơ lý và kỹ thuật phân tích hóa - lý hiện đại:

  • Phân tích thành phần khoáng: Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) thực hiện trên thiết bị D2 PHASER (Bruker).
  • Phân tích thành phần hóa học: Phương pháp huỳnh quang tia X (XRF) thực hiện trên thiết bị ARL ADVANT'X (Thermo).
  • Phân tích phân bố kích thước hạt: Sử dụng kỹ thuật tán xạ laser trên máy đo kích thước hạt Horiba LA-920.
  • Khảo sát vi cấu trúc pha rắn: Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) tại các độ phóng đại 2.000 lần, 5.000 lần và 10.000 lần.
  • Đánh giá cơ lý vữa mastic: Đo độ xòe dòng chảy xác định lượng nước tiêu chuẩn (chuẩn độ xòe 17 cm), đo thời gian đông kết bằng kim Vicat, kiểm tra độ giữ nước bằng thiết bị hút chân không và đo cường độ bám dính kéo đứt trên tấm mẫu chuẩn theo TCVN 7239:2014.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận là số liệu thực nghiệm đo đạc trực tiếp từ các lô mẫu chế bị, đối chiếu song song với các giới hạn quy chuẩn trong TCVN 7239:2014 và thông số kỹ thuật công bố của xi măng SCG PCW 50.1, bột tái phân tán Vinavil 5406P và cellulose ether Curminal C8381.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm 78 trang, 4 chương nội dung chính, 21 bảng số liệu, 37 hình vẽ và 23 tài liệu tham khảo.

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về vữa xây dựng và bột trét tường trong xây dựng hiện đại. Tác giả phân loại vữa theo chất kết dính, khối lượng thể tích và công dụng; phân tích các tính chất quan trọng gồm độ bám dính, độ lưu động, độ giữ nước, tính co nở và tính chịu lực. Nội dung chương tập trung làm rõ chức năng của từng cấu tử trong hỗn hợp mastic:

  • Chất kết dính: Sử dụng xi măng Poóc lăng trắng SCG PCW 50.1 với hàm lượng oxit sắt thấp ($Fe_2O_3 \le 0,4 - 0,5%$), cường độ nén 28 ngày đạt trên 50 MPa, độ trắng tuyệt đối trên 70% (theo ASTM E313-00).
  • Chất độn: Bột đá vôi ($CaCO_3$) chiếm tỷ trọng lớn trong công thức, yêu cầu kích thước hạt dao động 70 - 90 µm, độ trắng sáng $\ge 95%$, hàm lượng $CaCO_3$ đạt 95 - 97%.
  • Phụ gia polymer: Trình bày cơ chế của 4 nhóm phụ gia gốc polymer (latex polymer, bột polymer tái phân tán, polymer hòa tan trong nước và polymer lỏng). Trong đó, tác giả phân tích chi tiết phụ gia bám dính bột tái phân tán gốc vinyl axetat/etylen và phụ gia giữ nước ether cellulose (MHEC, MHPC - đại diện là Curminal C8381).
  • Cơ chế hóa học: Mô tả phương trình thủy hóa các khoáng clinker $C_3S$, $C_2S$, $C_3A$, $C_4AF$, sự hình thành ettringite và tương tác tạo phức giữa gốc carboxylate ($-COO^-$) của polymer với ion $Ca^{2+}$ từ $Ca(OH)_2$, qua đó giải thích tác dụng tăng cường tính công tác, giảm co ngót và bít kín lỗ rỗng mao quản của màng mastic. Chương 1 kết thúc bằng bảng tổng hợp các yêu cầu kỹ thuật đối với bột bả tường trong nhà và ngoài trời theo TCVN 7239:2014.

Chương 2: Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tiến hành thực nghiệm và phương pháp kiểm tra mẫu. Tác giả thiết lập lưu đồ nghiên cứu 4 giai đoạn logic:

  1. Giai đoạn 1 - Khảo sát cấp phối nền: Chế tạo 5 mẫu cấp phối đá vôi/xi măng trắng với các tỷ lệ khối lượng lần lượt là 50/50, 60/40, 70/30, 80/20, 90/10. Tiêu chí lựa chọn cấp phối nền tối ưu là công thức có hàm lượng xi măng thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo độ bám dính và cường độ theo tiêu chuẩn.
  2. Giai đoạn 2 - Khảo sát đơn phụ gia: Trộn cấp phối nền đã chọn với phụ gia bám dính Vinavil 5406P ở các mức 1%, 2%, 3%, 4%, 5% (tính theo khối lượng xi măng) và phụ gia giữ nước Curminal C8381 ở các mức 0,2%, 0,4%, 0,6%, 0,8%, 1,0% (tính theo khối lượng xi măng). Khảo sát biến thiên lượng nước tiêu chuẩn, độ lưu động, thời gian đông kết và cường độ bám dính.
  3. Giai đoạn 3 - Khảo sát hệ đa phụ gia: Tổ hợp đồng thời hai loại phụ gia trong khoảng tỷ lệ tối ưu đã khoanh vùng ở giai đoạn 2 nhằm khảo sát tương tác đồng thời giữa Vinavil và Curminal.
  4. Giai đoạn 4 - Đánh giá sản phẩm hoàn thiện: Kiểm tra toàn diện mẫu mastic tối ưu so với các chỉ tiêu của TCVN 7239:2014 và chụp ảnh SEM để đánh giá hình thái vi cấu trúc pha rắn.

Toàn bộ các quy trình thử nghiệm độ lưu động (TCVN 3121-3:2003), khả năng giữ độ lưu động (TCVN 7239:2014), thời gian đông kết bằng kim Vicat (TCVN 3121-9:2003) và cường độ bám dính kéo đứt (TCVN 7239:2014) được quy chuẩn hóa chi tiết kèm hình vẽ thiết bị thực tế ở phần phụ lục.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được qua các bảng biểu, đồ thị và ảnh chụp phân tích:

  • Đặc tính nguyên liệu đá vôi: Phổ XRD (Hình 3.1) xác định các pic nhiễu xạ đặc trưng của khoáng canxit ($CaCO_3$) và dolomite ($CaMg(CO_3)_2$). Phổ XRF (Hình 3.2) khẳng định thành phần oxit chiếm ưu thế tuyệt đối là $CaO$ và $MgO$. Kết quả phân tích kích thước hạt bằng laser Horiba LA-920 (Hình 3.3) cho thấy kích thước hạt bột đá vôi phân bố tập trung trong dải 10 - 90 µm, đáp ứng yêu cầu độ mịn cho bột bả.
  • Khảo sát cấp phối nền: Xác định lượng nước nhào trộn để đạt độ lưu động chuẩn (đường kính xòe 17 cm). Kết quả cho thấy tỷ lệ đá vôi càng tăng thì lượng nước nhào trộn giảm, tuy nhiên độ giữ nước và cường độ bám dính suy giảm rõ rệt. Cấp phối N50 (tỷ lệ 50/50) thể hiện tính chất nền tảng tốt nhất về cường độ ban đầu.
  • Ảnh hưởng của phụ gia Curminal C8381: Khi tăng tỷ lệ Curminal từ 0,2% lên 1,0%, lượng nước tiêu chuẩn để đạt độ xòe 17 cm tăng dần; khả năng giữ nước của vữa tăng mạnh và vượt ngưỡng 98% theo quy định TCVN; thời gian bắt đầu và kết thúc đông kết kéo dài đáng kể. Tuy nhiên, khi hàm lượng Curminal đạt mức 0,8% và 1,0%, cường độ bám dính có xu hướng suy giảm.
  • Ảnh hưởng của phụ gia Vinavil 5406P: Sự gia tăng tỷ lệ Vinavil từ 1% đến 5% giúp cải thiện vượt trội cường độ bám dính của mastic lên bề mặt nền, đồng thời hỗ trợ cải thiện nhẹ độ dẻo của hỗn hợp vữa tươi.
  • Tương tác tổ hợp phụ gia và vi cấu trúc: Kết quả đo đạc các mẫu phối trộn đồng thời cả 2 loại phụ gia cho phép xác định tỷ lệ phối hợp tối ưu, đáp ứng hài hòa giữa độ giữ nước cao, thời gian thi công kéo dài và cường độ bám dính đạt chuẩn. Ảnh chụp SEM tại các thang đo 2.000x, 5.000x và 10.000x (Hình 3.20 - 3.22) chứng minh sự phân bố của các màng polymer hữu cơ bọc quanh và xen kẽ các bó tinh thể dạng kim ettringite cùng gel C-S-H, tạo nên mạng lưới cấu trúc đặc chắc, hạn chế lỗ rỗng mao quản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp kết quả thí nghiệm của mẫu bột mastic hoàn chỉnh và so sánh trực tiếp với các quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam dành cho bột trét tường trong nhà và ngoài trời:

Chỉ tiêu kỹ thuật Đơn vị tính Yêu cầu TCVN 7239:2014 (Trong nhà) Yêu cầu TCVN 7239:2014 (Ngoài trời) Kết quả mẫu mastic nghiên cứu Đánh giá sự phù hợp
Độ mịn (phần còn lại trên sàng 0,09 mm) % $\le 3,0$ $\le 3,0$ Đạt yêu cầu sàng lọc Phù hợp cả hai loại
Thời gian bắt đầu đông kết phút $\ge 110$ $\ge 110$ Nằm trong khoảng cho phép Đạt quy chuẩn
Thời gian kết thúc đông kết phút $\le 450$ $\le 450$ Nằm trong khoảng cho phép Đạt quy chuẩn
Khả năng giữ nước % $\ge 98,0$ $\ge 98,0$ Đạt trên 98% khi có Curminal Đạt quy chuẩn
Cường độ bám dính ở điều kiện chuẩn MPa $\ge 0,35$ $\ge 0,45$ Đạt ngưỡng quy định Đạt chuẩn bột bả
Cường độ bám dính sau ngâm nước 72h MPa $\ge 0,25$ $\ge 0,30$ Khảo sát kiểm chứng Phù hợp tiêu chuẩn

Về mặt giải pháp và đề xuất kỹ thuật, tác giả chỉ ra:

  • Cần kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ bột đá vôi qua sàng 0,09 mm để đảm bảo độ mịn bề mặt, tránh hiện tượng gợn hạt khi xả nhám.
  • Tỷ lệ phụ gia giữ nước Curminal C8381 cần được khống chế trong dải thích hợp (dưới 0,8%), do hàm lượng quá cao sẽ cản trở quá trình thủy hóa ban đầu và làm suy giảm cường độ bám dính cơ học của vữa.
  • Phụ gia bám dính Vinavil 5406P là thành phần bắt buộc để bù đắp sự suy giảm bám dính khi tăng tỷ lệ chất độn đá vôi nhằm hạ giá thành sản phẩm.

Về đóng góp thực tiễn, công trình đã chứng minh tính khả thi của việc sử dụng nguồn bột đá vôi nội địa kết hợp xi măng trắng SCG và hệ phụ gia polymer nhập khẩu để chế tạo thành công bột trét tường đạt đầy đủ các chỉ tiêu kỹ thuật của TCVN 7239:2014, cung cấp số liệu thực nghiệm tin cậy cho việc ứng dụng sản xuất vữa khô trộn sẵn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung khóa luận và các nhận xét đánh giá từ cán bộ hướng dẫn (ThS. Kiều Đỗ Trung Kiên) cùng cán bộ phản biện (TS. Lê Thị Duy Hạnh), công trình tồn tại một số hạn chế học thuật:

  • Phần tổng quan tài liệu chưa đào sâu vào các công trình nghiên cứu chuyên sâu trong và ngoài nước liên quan đến cơ chế tương tác bề mặt giữa đá vôi và các polymer tái phân tán.
  • Các nhận xét thực nghiệm ở Chương 3 còn mang tính lặp lại theo khuôn mẫu mô tả; việc giải thích cơ chế hóa lý tại thời điểm đông kết (như sự hiện diện của pha C-S-H) và nguyên nhân giảm bám dính ở hàm lượng phụ gia giữ nước cao (0,8 - 1,0%) chưa thực sự thấu đáo.
  • Việc nhận diện khoáng ettringite trong mẫu đóng rắn mới chỉ dựa trên quan sát hình thái học tinh thể qua ảnh SEM mà chưa có các phân tích bổ trợ khẳng định (như phân tích nhiệt vi sai DTA/TGA hoặc phổ XRD pha rắn sau đóng rắn).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở rộng từ phạm vi đề tài:

  • Khảo sát bổ sung các chỉ tiêu độ cứng bề mặt và độ bền chu kỳ sốc nhiệt theo TCVN 7239:2014 đối với dòng sản phẩm mastic ngoài trời.
  • Nghiên cứu cơ chế tương tác hóa lý chi tiết giữa phụ gia polymer và các pha khoáng thủy hóa bằng các phương pháp phổ nghiệm vi mô chuyên sâu.
  • Thử nghiệm sản xuất ở quy mô bán công nghiệp (pilot) để đánh giá độ ổn định của sản phẩm khi đóng bao bảo quản dài ngày và hạch toán chi phí giá thành sản xuất cụ thể so với các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ Hóa học (Vô cơ - Silicat), Kỹ thuật Vật liệu Xây dựng, cũng như các cán bộ kỹ thuật R&D tại các nhà máy sản xuất sơn, bột trét tường và vữa khô trộn sẵn.

Những phần nội dung mang giá trị tham khảo ứng dụng cao bao gồm:

  • Quy trình thiết kế thí nghiệm khảo sát hệ vữa khô nhiều thành phần từ cấp phối nền đến hệ đa phụ gia.
  • Phương pháp luận tra cứu, áp dụng đồng bộ hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7239, TCVN 3121, TCVN 6017) trong việc kiểm tra chất lượng vữa xây dựng.
  • Tập hợp số liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa hàm lượng ether cellulose với lượng nước tiêu chuẩn, độ giữ nước và thời gian đông kết của vữa xi măng.

Câu hỏi thường gặp

Bột đá vôi sử dụng trong nghiên cứu có những đặc trưng khoáng học và phân bố hạt như thế nào?
Kết quả phân tích nhiễu xạ tia X (XRD) trên máy D2 PHASER và huỳnh quang tia X (XRF) trên máy ARL ADVANT'X xác định bột đá vôi có hai pha khoáng chủ đạo là canxit ($CaCO_3$) và dolomite ($CaMg(CO_3)_2$), tương ứng với thành phần oxit chính là $CaO$ và $MgO$. Kết quả đo kích thước hạt laser trên thiết bị Horiba LA-920 cho thấy các hạt phân bố chủ yếu trong dải 10 - 90 µm sau khi đã sàng loại bỏ phần tử lớn hơn 0,09 mm.

Tại sao việc bổ sung phụ gia Curminal C8381 lại làm tăng lượng nước tiêu chuẩn và kéo dài thời gian đông kết của vữa mastic?
Curminal C8381 là phụ gia ether cellulose có tính ưa nước cao, tạo dung dịch keo nhớt khi tiếp xúc với nước nhào trộn, làm tăng sức cản dòng chảy nên cần bổ sung nhiều nước hơn để hỗn hợp đạt độ xòe tiêu chuẩn 17 cm. Đồng thời, các chuỗi polymer cellulose ether hấp phụ lên bề mặt các hạt khoáng xi măng và ngăn cản quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa nước với clinker, làm chậm tốc độ hòa tan và thủy hóa của các pha khoáng (nhất là $C_3S$ và $C_3A$), dẫn đến thời gian bắt đầu và kết thúc đông kết bằng kim Vicat đều kéo dài.

Vì sao cường độ bám dính của mastic có xu hướng suy giảm khi hàm lượng Curminal tăng lên mức 0,8% và 1,0%?
Khi hàm lượng phụ gia giữ nước quá cao, lượng nước cần dùng để nhào trộn tăng lên đáng kể, dẫn đến tỷ lệ Nước/Chất kết dính thực tế cao. Khi vữa đóng rắn và khô đi, lượng nước dư thừa thoát ra để lại nhiều lỗ rỗng mao quản trong cấu trúc màng mastic. Thêm vào đó, lượng màng cellulose ether quá dày bao bọc quanh các hạt khoáng cản trở sự đan xen liên tục của các tinh thể C-S-H và ettringite vào các vi mao quản của bề mặt nền, làm suy giảm diện tích tiếp xúc hiệu dụng và giảm độ bám dính cơ học kéo đứt.

Phụ gia bám dính Vinavil 5406P đóng vai trò gì trong việc hình thành cấu trúc màng vữa mastic?
Vinavil 5406P là bột polymer tái phân tán gốc vinyl axetat/etylen. Khi nhào trộn với nước, bột tái nhũ hóa thành các hạt polymer siêu mịn phân tán đều trong pha lỏng vữa. Trong quá trình đóng rắn, các hạt này liên kết lại thành các màng polymer hữu cơ liên tục xen kẽ với sản phẩm thủy hóa vô cơ, bít kín các vi nứt và lỗ rỗng, đồng thời các nhóm chức carboxylate tạo liên kết phối trí với ion $Ca^{2+}$, tạo nên lực liên kết dẻo dai bám chặt vào bề mặt nền vật liệu.

Quy trình khảo sát thực nghiệm của khóa luận được phân chia thành những bước cốt lõi nào?
Quy trình thực nghiệm được triển khai tuần tự qua 4 bước: (1) Khảo sát 5 tỷ lệ cấp phối nền đá vôi/xi măng trắng từ 50/50 đến 90/10 để chọn cấp phối có tỷ lệ xi măng thấp nhất đạt yêu cầu cơ lý sơ bộ; (2) Khảo sát đơn phụ gia với Vinavil 5406P (1% - 5%) và Curminal C8381 (0,2% - 1,0%); (3) Khảo sát tổ hợp đồng thời 2 loại phụ gia để xác định điểm cân bằng tính năng; (4) Thử nghiệm toàn diện các chỉ tiêu cơ lý của mẫu hoàn chỉnh theo TCVN 7239:2014 và quan sát hình thái vi cấu trúc bằng kính hiển vi điện tử quét SEM.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Văn Hậu đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu thực nghiệm trong việc chế tạo bột mastic hệ xi măng Poóc lăng trắng kết hợp chất độn bột đá vôi nội địa. Công trình đã làm rõ quy luật ảnh hưởng của phụ gia giữ nước cellulose ether Curminal C8381 và phụ gia bám dính polymer tái phân tán Vinavil 5406P đến các đặc tính công tác, thời gian đông kết và cường độ bám dính của vữa mastic tươi lẫn sau đóng rắn. Dù còn một số hạn chế trong việc phân tích cơ chế hóa lý chuyên sâu, kết quả nghiên cứu đã đưa ra công thức phối liệu tối ưu đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của TCVN 7239:2014, mang lại giá trị thực tiễn rõ rệt cho lĩnh vực công nghệ vật liệu xây dựng hoàn thiện.