CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC CỦA LỢN Theo Whitemore (1993), sinh trưởng là quá trình tăng khối lượng cơ thể do sự tăng lên về số lượng và lớn lên của các tế bào trong các cơ quan và tổ chức. “Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”.
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận. Trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống. Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng cho thấy, lợn con giai đoạn sau cai sữa có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, cường độ trao đổi chất mạnh.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) cho biết: Lợn con ở 3 tuần tuổi, mỗi ngày tích luỹ được 9 - 14 g protein/kg tăng khối lượng. Trong khi đó, lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4 g protein/kg tăng khối lượng. Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn thấp, vì giai đoạn này tích luỹ chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1 kg thịt mỡ. Đồng thời, bên cạnh đó cũng thấy rằng lợn con sinh trưởng nhanh, nhưng không đồng đều qua từng giai đoạn tuổi.
Trong 21 ngày đầu sau khi sinh, lợn sinh trưởng nhanh, sau đó giảm dần, mà nguyên nhân chủ yếu do lượng sữa mẹ cung cấp không đủ nhu cầu, thời gian giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần, thời kỳ này được gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Đó là do ảnh hưởng bất lợi của môi trường sống và thay đổi về dinh dưỡng. Sự thay đổi thức ăn từ sữa của lợn mẹ sang thức ăn do con người cung cấp là nguyên nhân chính dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng trong tuần đầu tiên sau cai sữa. Chính vì vậy người ta phải tập cho lợn con ăn sớm (Kornegay et al., 1979; Lecce et al., 1979; Amstrong et al., 1980; Funderburke et al.
Như vậy cần tìm hiểu và nắm vững đặc điểm sinh trưởng cũng như sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng và phương pháp chế biến thức ăn cho lợn phù hợp, để đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn con sau cai sữa. Đồng thời, cần chú ý đến khẩu phần chăm sóc nuôi dưỡng trong giai đoạn đầu, để giúp cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết để con vật sinh trưởng và phát triển tốt nhưng không ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả kinh tế. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ SINH LÝ TIÊU HÓA CỦA LỢN 1.
Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn Hoàng Toàn Thắng và cs (2006), cho biết dạ dày lợn là dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần: dạ dày đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị. Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nang và thượng vị có tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCL. Hệ tiêu hóa lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tùy theo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi. Do ăn nhiều thức ăn thô xanh nên ruột già tồn tại hệ vi sinh vật có khả năng tiêu hóa một phần celluloza.
Đặc điểm hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng tiêu hóa thức ăn cao. Để sản xuất ra một khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng hết 4 - 6 kg thức ăn, trong đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg thức ăn. Dựa vào đặc điểm sinh học của hệ tiêu hóa nói trên chúng ta có thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hóa của lợn, để tăng cường khả năng chuyển hóa thức ăn, tăng năng suất và nâng cao hiểu quả kinh tế trong chăn nuôi. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở dạ dày lợn Đặc điểm cơ quan tiêu hoá lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá.
Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít). Đối với lợn con, sự tiết dịch có những đặc điểm khác biệt so với lợn trưởng thành. Lợn con 20 ngày tuổi có phản xạ tiết dịch cònchưa rõ, ban đêm lợn mẹ tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con. Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ acid của dịch vị lợn con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém.
Hàm lượng acid biến đổi theo lứa tuổi của lợn con, acid HCl tự do xuất hiện ở 25 - 30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40 - 50 ngày tuổi. Ở lợn con hàm lượng HCL là 0,05 - 0,15%, lợn 9 ngày tuổi 0,2 - 0,25%, ở lợn trưởng thành hàm lượng HCL là 0,35 - 0,4% (Nguyễn Thiện và cs, 1998). Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006), cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện. Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể hiện sự thay đổi hoạt tính các enzyme trong dịch vị.
Men pepsin: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con không có HCl tự do, lượng acid tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu acid hay còn gọi là “Hypoclohydric”. Sau 3 tuần tuổi, lượng HCl tự do Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 trong dịch vị mới tăng dần. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng. Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men pepsin, thuỷ phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động thích hợp trong khoảng pH = 4 - 5.
Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCl tự do hình thành chưa nhiều. Ở động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày. Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau giảm dần. Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở pH = 4 - 5.
Dưới tác dụng của chymosin và Ca++, protein trong sữa là caseinogen ở dạng hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại) của sữa được chuyển xuống ruột non để tiêu hoá. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa của ruột Dung tích ruột non ở lợn con sơ sinh là 100ml, 20 ngày tuổi tăng lên 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, 12 tháng đạt 20 lít. Ruột già ở lợn sơ sinh dung tích 40 - 50ml, 20 ngày 100ml, tháng thứ 3 khoảng 2,1 lít, tháng thứ 4 là 7 lít, tháng thứ 7 là 11 - 12 lít. Tiêu hoá ở ruột nhờ tuyến tụy, tuyến tụy tiết ra dịch tụy theo ống dẫn tụy Wirsung đổ vào tá tràng (chức năng ngoại tiết).
Dịch tụy có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tiêu hoá: Dịch tụy có tác dụng phân giải từ 60 - 80% protein, gluxit và lipit của thức ăn. Trong dịch tụy có chứa các enzyme phân giải protein, phân giải bột đường và enzyme phân giải mỡ. Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành. * Nhóm enzyme phân giải protein - Men trypsine: là men tiêu hóa do dịch tụy tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động sau đó được enzyme enterokinase của tá tràng hoạt hoá trở thành dạng trypsin hoạt động và diễn ra quá trình hoạt hoá trypsinogen.
Ở lợn con mới đẻ ra thì hoạt tính của men trypsine dịch tụy rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày. Trypsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng tương tự như pepsin nhưng hoạt lực mạnh và triệt để hơn. - Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là chimotripsinogen sau đó được trypsin hoạt hoá chuyển thành chimotripsin hoạt động, pH tối ưu = 8, tác dụng tương tự trypsin. - Alastase phân giải alastin (gân, bạc nhạc) thành peptid và amino acid.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptid ở đầu có nhóm COO- tự do và tách amino acid ra khỏi phân tử peptid. - Dipeptidase phân giải dipepti thành 2 amino acid. - Protaminase phân giải protamin thành peptid và amino acid. - Nuclease phân giải acid nucleic thành mono nucleotid.
* Nhóm men thuỷ phân glucid. - Men Amylase và Mantase: Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tụy khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém, chỉ tiêu tiêu hoá được 50% lượng tinh bột ăn vào. Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém. Sau 3 tuần tuổi, enzyme amylase và mantase có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn.
Amylase hoạt động tối ưu trong môi trường pH = 7,1. Nó cắt liên kết 1 - 4α glucozit của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose. Maltase phân giải đường maltose thành glucose. - Men Saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi, men saccarase hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường saccarase thì rất dễ bị tiêu chảy.
- Men lipase: Hoạt động tối ưu ở pH = 6,8. Lipase cắt các liên kết este giữa glycerol và acid béo, do đó phân giải glycerid đã được nhũ hoá bằng dịch ruột để tạo ra mono lycerid, acid béo và glycerol. - Men lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa.