phần mở đầu, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tử tuất và pháp luật về chế độ tử tuất Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về chế độ tử tuất và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ tử tuất tại Việt Nam 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT 1. Một số vấn đề lý luận về chế độ tử tuất 1. Khái niệm chế độ tử tuất Thuật ngữ tử tuất Các quốc gia trên thế giới khi phát triển kinh tế đều gặp phải các thách thức và khó khăn nhất định, trong đó gồm có các vấn đề về tài chính, lạm phát, thâm hụt ngân sách, cho đến thực trạng thất nghiệp, nhu cầu giải quyết chế độ chính sách cho ngƣời dân. Trong xã hội, con ngƣời là trung tâm của mọi sự phát triển xã hội, vừa là đối tƣợng trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa là đối tƣợng tiêu dùng.
Con ngƣời có nhiều nhu cầu khác nhau và tùy thuộc vào khả năng tài chính của mỗi ngƣời mà đạt đƣợc nhu cầu nhất định. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống cũng nhƣ quá trình sản xuất sẽ xuất hiện những trƣờng hợp khiến con ngƣời sẽ có thể gặp phải nhiều rủi ro nhƣ ốm đau, tai nạn, bệnh tật, dịch bệnh, mất việc làm, mất khả năng lao động, giá cả, bị chết… Để vƣợt qua những khó khăn tác động đến bản thân, gia đình con ngƣời cần có sự đùm bọc, chia sẻ từ xã hội. Trong quy luật phát triển của mỗi ngƣời, trải qua các gia đoạn sinh, lão, bệnh, tử là điều không thể tránh khỏi thì còn có nhiều yếu tố bên ngoài tác động. Vì vậy, cuộc đời mỗi ngƣời không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, màu da, điều kiện kinh tế cuối cùng đều phải đối mặt với cái chết.
Có thể nói cuộc đời mỗi ngƣời ngắn hay dài, và rủi ro xảy đến với mỗi ngƣời có thể vào bất kỳ giao đoạn nào và với mỗi hoàn cảnh thì rủi ro đó lại có những tác động khác nhau đến những ngƣời thân của họ. Tƣơng thân tƣơng ái, giúp đỡ nhau trong những thời điểm hoạn nạn, khó khăn đã trở thành phong tục truyền thống mà dân tộc ta có đƣợc từ ngàn đời. Theo từ điển Tiếng việt, “tử” nghĩa là chết, “tuất” nghĩa rủ lòng thƣơng mà cầu cứu [27]. Tử tuất mang hàm ý hỗ trợ, cứu giúp gia đình, ngƣời thân 7 của ngƣời đã chết.
Việc giúp đỡ gia đình của ngƣời đã chết thể hiện qua việc hỗ trợ tổ chức ma chay, hỗ trợ thân nhân của ngƣời chết khi họ mất một phần thu nhập trong gia đình là việc làm hết sức cần thiết để có thể giúp họ ổn định trong giai đoạn đầu khi khó khăn mới xảy ra. Hoạt động này không chỉ bó hẹp trong phong tục, hƣơng ƣớc làng xã mà còn đƣợc pháp luật hóa nhằm tạo điều kiện cho sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng xã hội. Có thể hiểu khái quát rằng, “tử tuất” chính là một phần của chính sách an sinh xã hội mà mỗi quốc gia đều thể chế hóa thành quy định pháp luật nhằm tạo nên những quy định chung mang tinh thần chia sẻ của mọi ngƣời và kết nối giữ những ngƣời cùng sống trong cộng đồng, xã hội, thể hiện tinh thần và trách nhiệm đối với thành viên trong xã hội mình. Khái niệm về chế độ tử tuất Với sự pháp triển của nền kinh tế, khi tham gia vào thì trƣờng lao động thì NLĐ luôn mong muốn công sức mà họ bỏ ra là xứng đáng, tiền công họ nhận đƣợc là tƣơng ứng với sức lao động mà họ bỏ ra.
Có thể thấy khi những NLĐ gặp phải những rủi ro dẫn đến nguồn thu nhập bị giảm, bị mất khiến đờì sống khó khăn, bản thân họ mong muốn có đƣợc cơ chế giúp đỡ họ và thân nhân của mình vƣợt qua những khó khăn đó. Trong quan hệ xã hội, những NLĐ, ngƣời thụ hƣởng chính sách BHXH khi tham gia vào thị trƣờng lao động không những là lao động để nuôi sống bản thân mà còn là nguồn lao động chính nuôi sống những thân nhân trong gia đình của họ. Vấn đề xảy ra khi NLĐ, ngƣời tham gia thụ hƣởng chính sách BHXH đó khi chết, nghĩa vụ nuôi dƣỡng ngƣời thân của họ vẫn còn nhƣng việc thực hiện trách nhiệm đó bị dừng lại, điều đó sẽ dẫn đến một trở ngại lớn trong việc ổn định lại cuộc sống cho thân nhân của họ, đặc biệt là đối với những đố tƣợng không có khả năng nuôi sống bản thân. Luật BHXH 2014 quy định rất chặt chẽ về khái niệm thân nhân nhƣ sau: “Thân nhân là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha 8 đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của ngƣời tham gia BHXH đang có nghĩa vụ nuôi dƣỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình” [34 Điều 3, khoản 6].
Khi NLĐ chết gia đình sẽ nhận khoản trợ cấp nhằm bảo đảm và ổn định cuộc sống khi họ không còn tồn tại. BHXH với bản chất là bảo hiểm cho thu nhập của NLĐ trong trƣờng hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nên cũng sẽ có trách nhiệm trợ giúp cho thân nhân của NLĐ – những đối tƣợng đƣợc hƣởng từ thu nhập của NLĐ tham gia bảo hiểm khi còn sống. Ngay từ trong Bộ luật Hồng Đức năm 1483 đã có quy định buộc nhà nƣớc cung cấp lƣơng thực, nơi ở và thuốc men cho ngƣời bệnh tật, nghèo khó hay tật nguyền, cô nhi, quả phụ không nơi nƣơng tựa. Luật trừng phạt quan chức không thi hành nghĩa vụ đã đƣợc quy định rất rõ ràng [40].
Theo quan điểm cá nhân có thể kết luận: chế độ tử tuất là một trong các chế độ BHXH bao gồm mai táng phí và trợ cấp tuất một lần hoặc trợ cấp tuất hàng tháng nhằm hỗ trợ hoặc thay thế một phần thu nhập bị mất cho thân nhân khi NLĐ, ngƣời đang đƣợc hƣởng chế độ BHXH chết theo quy đinh của pháp luật về BHXH. Đặc điểm của chế độ tử tuất Chế độ tử tuất là hình thức bảo đảm có tính xã hội cao và mang những đặc điểm cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, chế độ tử tuất được áp dụng trong trường hợp người tham gia BHXH chết. Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm nhằm mục đích mang lại lợi ích NLĐ, kể cả khi họ không còn sống. Theo một cách dễ hiểu, khi đã tham gia vào chế độ bảo hiểm tử tuất, NLĐ đƣợc bảo vệ trực tiếp quyền lợi của bảo thân và gia đình họ thông qua việc bảo đảm thu nhập cho đến cả sau khi chết.
Khi còn trong thời gian làm việc, NLĐ đƣợc bảo đảm khi bị ốm đau, lao động 9 nữ đƣợc trợ cấp thai sản khi sinh con; ngƣời bị tai nạn lao động đƣợc trợ cấp tai nạn lao động; khi đến tuổi kết thúc thời gian lao động thì đƣợc hƣởng tiền hƣu trí, khi chết thì đƣợc tiền chôn cất và gia đình đƣợc hƣởng trợ cấp tuất … Đây là đặc trƣng riêng của chế độ tử tuất khác biệt hẳn so với các chế độ BHXH khác trong hệ thống BHXH. Thứ hai, đối tượng thụ hưởng chế độ tử tuất không những là đối tượng tham gia BHXH mà còn là thân nhân của người tham gia BHXH. Trong các loại hình chế độ BHXH, tất cả các chế độ khác đều hƣớng đến đối tƣợng thụ hƣởng là ngƣời trực tiếp tham gia BHXH (NLĐ), còn chế độ tử tuất lại có sự phân biệt giữa ngƣời tham gia và ngƣời thụ hƣởng chế độ. Đối tƣợng đƣợc bảo hiểm là thu nhập của NLĐ và khi phát sinh rủi ro dẫn đến bảo hiểm thì gia đình NLĐ có quyền đƣợc hƣởng các khoản bù đắp khi NLĐ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đóng bảo hiểm và đáp ứng những điều kiện do luật định.
Sự kiện làm căn cứ phát sinh chế độ tử tuất là do rủi ro dẫn đến cái chết của ngƣời tham gia BHXH. Vì những sự kiện và rủi ro này mà NLĐ và những ngƣời thân của họ đƣợc họ chu cấp bịihao hụt hoặc mất nguồn thu nhập. Vì vậy, những ngƣời phụ thuộc một phần (hoặc hoàn toàn) vào thu nhập của NLĐ cầniphải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sựibù đắp này chính là đƣợc thông qua qua các trợ cấp tiền tuất. Tuy nhiên, để đảm bảo sự công bằng, tất yếu rằng trợ cấp tiền tuất đƣợc chi trả đúngingƣời cần nó, phải có cáciđiều kiện làm phát sinh quyền lợi đối với bên thụihƣởng chế độ.
Đây làiđặc thù riêng biệt rất lớn của chế độ tử tuất soivới các chế độ khác trong hệ thốngiBHXH. Chính vì vậy, chế độ tử tuấticó thể đƣợc xem là chế độ “dành cho ngƣời còn sống”, chế độ bảo hiểm gián tiếp mà những ngƣời nhận đƣợc không nhấtithiết phải là đối tƣợng tham giaibảo hiểm. Mỗiiquốc gia có nhữngiquy định riêng về điều kiện đƣợcinhận trợ cấp tuất đối với thân nhân NLĐichết tùy thuộc vào điều kiện kinh tếi- xã hội của quốc gia 10 đó. Tuyinhiên mọi quy định về chế độitử tuất đều đƣợc xây dựng dựaitrên các tiêu chí đánh giá sự tổnithất của gia đình khi NLĐ chết đi và mứciđộ phụ thuộc của từng thân nhân vàoiNLĐ khi họ còn sống.
Thứ ba, quỹ tử tuất được nhà nước thống nhất quản lý và hạch toán độc lập. Sự đóng góp của các bên tham gia chế độ tử tuất, baoigồm NLĐ, NSDLĐ và nhà nƣớc là nguồn hìnhithành cơ bản của quỹ BHXH nói chung, trong đó có quỹ hƣu trí, tử tuất. Trong cơ cấu của quỹ BHXH có nhiều bộ phận cấu thành và quỹ tử tuất là một quỹ thành phần có yêu cầu sử dụng và chế độ hƣởng khác biệt, do đó việc sử dụng quỹ tử tuất phải đúng mục đích. Đồng thời, quỹ tử tuất cũng đƣợc lập theo mô hình quỹ tồn tích cộng đồng nên việc hạch toán của quỹ đƣợc hạch toán hàng năm và báo cáo định kỳ với cơ quan quản lý.
Về mặt tài chính, quỹ tử tuất là một dạng quỹ tài chính độc lập tự thu, tự chi nằm trong tổng thể quỹ BHXH và độc lập với ngân sách Nhà nƣớc, có sự kiểm tra, giám sát của đại diện các bên tham gia: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nƣớc. Thứ tư, hoạt độngicủa chế độ tử tuấtinhằm mục đích phi lợi nhuận.