Chương I: — Tổng quan về tràn xả lũ Chương II: Tinh toán bể tiêu năng tran xả lũ Hạ Sẽ San 2 Chương II: So sánh kết quả tính toán lý thuyết và kết quả thí nghiệm mô hình thuỷ lực Chương IV: Kết luận và kiến nghị = Những kết quả đạt được của luận văn. = Những tổn tại của| ~ Kiến nghị. Các tài liệu tham khảo Phụ lục CHUONG I TONG QUAN VE TRAN XA LŨ 1,1. TONG QUAN TINH HÌNH XÂY DỰNG TRAN XA LŨ 'Ở VIỆT NAM VA TREN THE GIỚI "Trong đầu mối công trình thuỷ lợi, công trình thao là một bộ phận quan trọng, nó có thé dùng để tháo phần nước lũ thừa trong thời gian hồ đầy đến.
mực nước tính toán hoặc kết cấu tháo vật nôi về hạ lưu, có thể dùng dé tháo. hoàn toàn hoặc một phần hồ chứa để sửa chữa hoặc nạo vét và cấp nước cho hạ lưu công trình Các công trình thio đã xây dựng ở nước ta tương đối phong phú về thể loại và da dạng về hình thức kết cấu. Trong những năm gin đây, đặc biệt từ năm 2002, ở nước ta đã dang và sẽ triển khai thiết kế và xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, trong đó nhiều công trình có hỗ chứa và công trình xả lũ có quy mô lớn. Có thé nêu ra một số dự án như thuỷ điện S an 3, Na Hang (Tuyên Quang), Rao Quán (Quảng Tri), Plêikrông, Sẽ San 3A, Sẽ San 4, A Vương, Buôn Kướp, Đại Ninh, Sérép6k, Buôn Tua Sa, Bản Vẽ, Sông Ba Ha, An Khé-Ka Nac, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Sông Tranh 2, Ban Chat, Huội.
Quảng, Son La, Cửa Đạt, Bắc Hà. Đây là những công trình có quy mô hỗ chứa có dung tích từ hàng triệu cho đến hàng chục ty m3 nước, khả năng tháo của công trình xa nước cũng từ hàng ngàn cho đến vài chục ngần m3/s. Có thể nói trong khoảng gin 20 năm trở lại đây, tốc độ xây dựng các đập cao, hồ chứa lớn phát triển nhanh. Chúng ta đã nhanh chóng áp dụng thành công những công nghệ thiết ké, thi công tiên tiễn của thể giới đẻ xây dựng các công.
trình đầu mỗi ở Việt Nam như đập đá đỗ bản mặt bê tông (CFRD), đập bê tông dim lăn (RCC), đập bê tông truyền thống (CVC) khối lớn cấp phối liên tục. Trong số đó có những đập đã được đưa vào vận hành an toàn, về đập đá đổ bản mặt có đập hồ chứa nước thuỷ lợithuỷ điện Quảng Tri, thuỷ điện Tuyên Quang; vẻ đập CVC có đập Sẽ San 3, Sê San 3A; Về đập RCC có đập. Trước đó, chúng ta cũng đã xây dựng mộtsố đập, lỗ chứa lớn như. Hoa Bình, Thác Ba, Trị An, Thác Mơ, laly, Sông Hinh, Vĩnh Sơn, Diu Tiếng, A Yun Ha, Phú Ninh.
Phủ hợp với di kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn của từng công trình mà đã thiết kế nhiều dạng công trình tháo lũ khác nhau trong tổng thể bố trí công trình, bao gồm cả tràn xả mặt sông (Sẽ San 3, Sê San 3A, Sẽ San 4, Plêikrông, A Vương, Bản Chat, Huội Quảng, .), xả mặt kết hợp với xa sâu (Hoa Bình, Sơn La, Tuyên Quang), đường trin dọc (laly, Sông Hinh, Hàm Thuận-Đa Mi, Tuyên Quang, Rao Quán, Đại Ninh.) 'Về hình thức tiêu năng sau công trình tháo nước, thường có 3 dạng tiêu. năng được áp dụng: Tiêu năng đáy: Đặc điểm tiêu năng bằng dòng day là lợi dụng sức cản nội bộ của nước nhảy Có thể áp dụng kiểu bổ, hay tường + bể kết hợp. Biện pháp tiêu năng đáy thường được áp dụng cho các công trình vừa và nhỏ, mực nước hạ lưu tương đối lớn, địa chất nên công trình thường là đá yếu (Trị An, A Lưới,. Loại hình nay đảm bảo tiêu tán hết năng lượng dư nhưng đòi hỏi khối lượng xây lắp khá lớn, giá thành cao, đặc biệt đối với các công trình có.
quy mô lớn. Tiêu năng mit: Dang chảy hình thức tiêu năng này ở trạng thái chảy mặt, chỉ sau khi mở rộng hoàn toàn mới đạt đến đáy. Nhìn chung, với chế độ chảy mặt ở hạ lưu tạo thành sóng giảm dần làm xéi lỡ ở ving này. Thường động năng thửa phân tán trên một chiều dai lớn hơn so với chế độ chảy đáy.
chảy mặt có thé áp dụng trong trường hợp nên đá, khi không cần gia cổ hạ lưu. hay giảm chiều dai gia cố, mực nước ha lưu cao và thay đổi it. TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VE TIÊU NANG 1. Khai quát chung Đặc điểm nổi bật của công trình tháo nước là khi dòng chảy đổ tir thượng lưu qua công trình về hạ lưu, nguồn năng lượng của dòng chảy khá.
lớn sẽ tạo ra chế độ thuỷ lực nối tiếp phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định của công trình, Đặc tính thuỷ lực cơ bản của ding chảy qua công trình tháo là êm ở thượng lưu (Fr < 1); chảy xiết trên đoạn chuyển tếp (Fr > 1) và dần trở lại trạng thái tự nhiên sau khi chảy vào sông thiên nhiên Động năng thừa của đồng chảy đỗ từ thượng lưu qua công trình xuống hạ lưu là rất lớn nên cần thiết phải giải quyết tiêu năng trước khi dòng chảy: nổi tiếp về hạ lưu. Nguyên tắc của các giải pháp nồi tiếp tiêu năng là phải tìm. được biện pháp tiêu hao được năng lượng thừa của dòng chảy tới mức tối da, điều chỉnh lại sự phân bộ vận tốc, làm giảm mạch động để cho dòng chảy trở vỀ trang thải tự nhiên của nó trên một đoạn ngắn nhất, giảm khối lượng gia cổ nhưng vẫn bảo vệ được cho công trình đầu mối, cho hai bờ, lòng dẫn hạ lưu. và phải đảm bảo sự ôn định trong những điều kiện thuỷ lực tương ứng với các cấp lưu lượng xả qua công trình.
Một trong những nhiệm vụ chính của thiết kế nối tiếp thượng hạ lưu là nghiên cứu chế độ thuỷ lực chọn kết cấu và xác định các thông số của giải pháp tiêu năng trên cơ sở tính toán và nghiên cứu mô hình thuỷ lực trình nối tiếp tiêu năng. Giải quyết đúng đắn nhiệm vụ nay là vấn để tạp vì nó liên quan đến ảnh hưởng của chế độ dòng chảy từ thượng lưu lan truyền xuống và ảnh hưởng đến hạ lưu bao gồm các vấn đề: dòng xiết, hàm. khí, mạch động áp suất và mạch động lưu tốc lớn. Đặc điểm của những chế độ.
nối tiếp và điều kiện phát sinh, tương tác giữa các dòng chảy với công trình. nổ sp và lòng dẫn. Mặt khác, về t hình thức và t cấu công trình lại phụ thuộc rất nhiễu đến các yếu tổ như: Điều kiện địa hình, địa chất tuyến công trình, độ chênh mực nước thượng hạ lưu, đặc điểm. và sự phân bồ lưu lượng đơn vị qua công trình.
Một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài Bai toán về nồi tiếp và tiêu năng dòng chảy qua công trình đã được các nhà khoa học trong nước và trên thể giới quan tâm nghiên cứu, đưa ra các lời giải trên các lĩnh vực và khía cạnh khác nhau. * Các vấn đề nối tiếp chảy đáy ở hạ lưu theo phương pháp. thể kể đến Bidone năm 1880, Belanger năm 1928 và gin đây là N. Ragiaratman với công thức tính chiều sâu liên hiệp của nước nhảy phân giới: * Theo phương pháp thực nghiệm, dựa trên phương trình năng lượng và động năng có nhiều tác giả đã tiến hành thí nghiệm để tìm ra các hệ thức tính toán nước nhảy và từ đó tính dạng nối tiếp giữa dòng xả và dòng chảy hạ lưu ~ Tréc tou xốp sử dụng hệ thức nước nhảy của Belanger và phương trình.
năng lượng để xác định độ sâu co hẹp tại chân đập và độ sâu liên hiệp của nó; ~ Giáo sư A-grỗt-Skin đã lập các phương trình tính toán nước nhảy theo dạng không thứ nguyên: - Ngoài ra có thể kể đến các tác giả như: Aivadian, Pavơlôpxki, V.Saomian có nhiều nghiên cứu về vấn dé nước nhảy; - Nghiên cứu về nhảy ngập trong bài toán phẳng có: T Bunsu, An Rakhomandp, N.v ~ Đối với những trường hợp nước nhảy không gian thì khi mở rộng đột ngột có nhiều nhà nghiên cứu như: Picalôp, Abơranôp đã đưa ra sơ đồ nước. nhảy hoàn chinh dang đối xứng. Các nhà khoa học như Linhxepxki, Guncô, Serenkôp, B. đã chứng minh có nước nhảy xiên và đã tìm ra dạng cũng như phân bồ vận tốc của dòng xiên mở rộng.
Cũng còn có thé ké đến các nghiên cứu nồi tiếp dòng xiết và dỏng êm ở hạ lưu công trình với điều kiến. biên mở của các tác giả như: Q. - Khi nhảy ngập trong điều kiện không gian với lòng dẫn mở rộng dẫn trong khu vực nối tiếp nhiều tác giả như: Ra-khơ-ma-nốp, T.Prô-v a, * Trong trường hợp bậc thấp có đập thut nối tiếp: có các kết quả nghiên cứu của Forter và Krinde, Moore và Morgan, Ventechow Yames và Sharp. * Các nói tiếp chảy mặt ở hạ lưu công trình có thé ké đền: ~ Các nghiên cứu của A.
Xabanhep xuất phát từ quan điểm cho rằng áp suất ở bậc tuân theo quy luật thuỷ tinh để di đến các hệ thức tính toán thuỷ lực ở sau bậc. - Ngoài ra có thé kế đến các nghiên cứu của M. Makhlop về trang thái nối tiếp chảy mặt. * Các vin dé nối tiếp chảy mặt dang dòng phun tự do ở hạ lưu công trình thực chất là việc tính toán chiều sâu hỗ xói với các nghiên cứu của TE.
Mirtxkhulava đối với nén dat không dính và của T. Akhơ-me-đốp với nên đã rắn, các nghiên cứu của BM Sievascvili về nối tiếp với sự hợp nhau của hai đồng phun tự do. * Các vấn đề nói tiếp theo dạng xả kết hợp ở hạ lưu công trình có thể kế đến các nghiên cứu của B. * Các nghiên cứu về thuỷ lực và bi pháp công trình trong đoạn chuyển tiếp còn có thể kể đến các tác giả như: - Về lêu năng trong bé, các ảnh hướng liên quan của mực nước hạ lưu, ngưỡng, bé tiêu năng đầu hồ xói đã được chi ra trong các nghiên cứu của: Tréc tou xốp, Smetana, Bá Kirova, Ughin trut, P.
10 ~ Vé xói hạ lưu có các tác giả như: Ter-Arakelian, Chalumina, Vuzgo. ~ Cu min đã nghiên cứu rit ky sự phân bổ lưu tốc trong vùng chuyển tiếp thông số đặc trưng œ = Vấn đề mạch động trong và sau nước nhảy đã được chỉ ra trong các nghiên cứu của Lê Vi. ~ Vấn dé xói: Grund đã ra những cấu trúc đặc biệt bên trong nước nhảy liên qua đến bài toán xói bằng cách khái quát trường lưu tốc bằng ba miền tương. hỗ lẫn nhau.
- Liên quan đến chiều sâu xói én định đã có các tác gid như: VuZgo, Schoklitsch, Vernonese, Jaeger, Patre ev, Eggenberger, Smolianninov.