CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về Diệp hạ châu đắng 1. Vị trí phân loại Tên khoa học: Phyllanthus amarus Schum. Tên gọi khác: Chó đẻ răng cưa, chó đẻ thân xanh, cam kiềm, kiền đắng, cỏ trân châu, rút đất, trân châu thảo, lão nha châu, diệp hòa thái [3].
Theo hệ thống phân loại của Takhtajan [48], Diệp hạ châu đắng có vị trí phân loại như sau: Giới (Regnum) Thực vật (Plantae) Ngành (Division) Magnoliophyta (Ngọc lan) Lớp (Class) Magnoliopsida (Ngọc lan) Bộ (Ordo) Euphorbiales (Thầu dầu) Họ (Familia) Euphorbiaceae (Thầu dầu) Chi (Genus) Phyllanthus Loài (Species) Phyllathus amarus Schum. Phân bố - sinh thái Phyllanthus amarus thuộc họ Euphorbiaceae. Cây được mô tả lần đầu tiên năm 1737 bởi Linnaeus [8]. Chi Phyllanthus có khoảng 1000 loài, có mặt ở các lục địa nhiệt đới và cận nhiệt đới như Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi và châu Úc [45],[17].
Ở Châu Á, Diệp hạ châu đắng chủ yếu phân bố ở các nước Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Philippin, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, phía Nam Trung Quốc và cả ở vùng đảo Salawesi. Tại Việt Nam, cây Diệp hạ châu đắng phân bố rải rác khắp nơi từ các tỉnh đồng bằng, ven biển, các đảo lớn đến các tỉnh trung du và miền núi có độ cao dưới 800m. Diệp hạ châu đắng là cây ưa sáng, có thể hơi chịu bóng khi còn nhỏ hoặc mọc xen lẫn với các loài cây cỏ khác. Cây thường mọc trong vườn, ruộng trồng hoa màu, ven đường đi hay trên nương rẫy, …[4] 2 1.
Đặc điểm thực vật Cây thảo cao 40-80 cm, thân tròn, bóng, màu xanh, phân nhánh đều, nhiều. Lá mọc so le xếp thành hai dãy sít nhau trông như lá kép hình lông chim. Phiến lá hình bầu dục, dài từ 5 mm đến 10 mm, rộng 3 mm đến 6 mm, màu xanh thẫm ở mặt trên, màu xanh nhạt ở mặt dưới. Hoa đực và hoa cái mọc thành cụm.
Hoa đực có cuống ngắn 1 mm đến 2 mm, đài 5, có tuyến mật, nhị 3, chỉ nhị dính nhau. Hoa cái có cuống dài hơn hoa đực. Quả nang, nhẵn, hình cầu, đường kính 1,8 mm đến 2 mm, có đài tồn tại. Quả chứa 6 hạt hình tam giác, đường kính 1 mm, hạt có sọc dọc ở lưng.
Bộ phận dùng, gieo trồng, thu hái Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Phyllanthi amari Gieo trồng: Gieo hạt ở vườn ươm: tháng 1-2, trồng cây con: tháng 2-3, thu hoạch: tháng 4-5 (sau khi trồng 45-50 ngày). Nhìn chung, thời vụ trồng Diệp hạ châu đắng kéo dài cả mùa khô, tận dụng trời nắng để phơi. Thu hái: Sau khi trồng khoảng 45-50 ngày, cây Diệp hạ châu đắng cao 60-70 cm là thu hoạch. Năng suất đạt 10-12 tấn tươi/ha/vụ.
Một năm có thể trồng 2 vụ. Diệp hạ châu đắng là cây thuốc dễ trồng, cây không kén đất. Thành phần hoá học Phyllanthus amarus có chứa nhiều thành phần hoá học quan trọng như flavonoid, tanin, alcaloid, lignan, sterol, terpen, tinh dầu,… [8], [17], [26], [45] được tổng hợp như bảng sau: Bảng 1. Thành phần hoá học trong Diệp hạ châu đắng STT Nhóm chất Hoạt chất 1 Flavonoid rutin; quercetin-3-0-glucoside; quercetin; kaempferol; astragalin; quercitrin; gallic acid; (- )-epicatechin; (+)- gallocatechin; (-)-epigallocatechin; (-)-epicatechin 3-Ogallate and (-)-epigallocatechin 3-O-gallate 2 Tanin geraniin; amariin; repandusinic acid A; corilagin; isocorilagin, phyllanthusiin A, B, C, D; amarulone; furosin; melatonin; 1, 6- digalloylglucopyranose; 4-O galloylquinic acid 3 3 Alcaloid norsecurinine; securinine; epibubbialine; isobubbialine; dihydrosecurinine; tetrahydrosecurinine; securinol; 4-methoxy- nor-securinine 4-methoxy; dihydrosecurinine; 4- methoxytetrahydrosecurinine; 4 hydrosecurinine 4 Lignan phyllanthin; hypophyllanthin; niranthin; phyltetralin; nirtetralin; hinokinin; 5-dimethoxy-niranthin; 4-(3,4-diethoxy-phenyl)-1-(7- methoxybenzo[1,3]dioxol-5-yl)-2,3-bismethoxymethyl-butan-1- ol; nirphyllin; phyllnirurin; cubebin dimethyl ether; urinatetralin; isonirtetralin; lintetralin, isolintetralin; demethylenedioxy-niranthin 5 Tinh dầu linalool; phytol 6 Sterol amarosterol A; amarosterol B 7 Triterpen phenazine and dẫn xuất phenazine (2Z, 6Z, 10Z, 14E, 18E, 22E- farnesyl farnesol); phyllanthenol; phyllanthenone; phyllantheol; oleanolic acid; ursolic acid Công thức cấu tạo của một số thành phần hoá học chính trong DHCĐ: [26], [45] Flavonoid Alcaloid Sterol Hình 1.
Khung cấu trúc của flavonoid, alcaloid, sterol 4 Geraniin Amarin Hình 1. Công thức hoá học một số hợp chất tanin Phyllanthin Hypophyllanthin Hình 1. Công thức hoá học một số hợp chất lignan 5 H3C OH HO CH3 CH2 CH2 H3C CH3 H3C CH3 Linalool OH Phytol Hình 1. Công thức hoá học của một số tinh dầu Acid oleanolic Acid ursolic Hình 1.
Công thức hoá học của một số hợp chất terpenoid 1. Tác dụng sinh học 1. Tác dụng kháng virus - Kháng virus Sốt xuất huyết (Dengue): Năm 2013, Sau Har Lee và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu dịch chiết methanol: nước từ bốn loài Phyllanthus (Phyllanthus amarus, Phyllanthus niruri, Phyllanthus urinaria và Phyllanthus watsonii) và các hợp chất polyphenolic của chúng được xác định thông qua phân tích HPLC và LC-MS/MS; sau đó, sàng lọc hoạt tính 6 kháng vi-rút trong ống nghiệm của dịch chiết xuất chống lại DENV2. Kết quả, đã xác định được một số hợp chất từ dịch chiết dược liệu bao gồm acid gallic, geraniin, syringin và corilagin.
Bốn loài Phyllanthus cho thấy hoạt động ức chế mạnh đối với DENV2 với việc giảm hơn 90% vi rút. Tỷ lệ phần trăm của geraniin trong chiết xuất là cao nhất, do đó được dự đoán là sẽ phát huy hầu hết tác dụng chống virus. [38] Năm 2015, Ruchi Sood và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu sàng lọc các dịch chiết thực vật cho hoạt động ức chế virus Dengue. Kết quả cho thấy, dịch chiết methanol của toàn cây Diệp hạ châu đắng có tác dụng ức chế cả 4 type huyết thanh của virus Dengue, ngay cả khi virus đã xâm nhập vào tế bào.
[43] - Kháng các loại virus khác: Năm 2003, Ray Ling Huang và các cộng sự tiến hành nghiên cứu 25 hợp chất phân lập từ P. amarus, cho thấy niranthin, nirtetralin, hinokinin và geraniin ở nồng độ không gây độc tế bào (50 μm) ức chế hiệu quả cả HBsAg và HbeAg. Trong đó, niranthin cho thấy hoạt tính kháng HBsAg tốt nhất, và hinokinin cho hoạt tính kháng HbeAg mạnh nhất. [16] Dịch chiết nước của Phyllanthus amarus cho thấy hoạt tính kháng lại vi-rút gây hội chứng đốm trắng ở tôm ở nồng độ 150 mg/kg trọng lượng cơ thể động vật trong 30 ngày.
[9] Dịch chiết rễ cây cho thấy sự ức chế đáng kể enzyme protease HCV-NS3; trong khi chiết xuất từ lá cho thấy sự ức chế đáng kể NS5B trong các thử nghiệm in vitro chống lại HCV. và cộng sự tiến hành nghiên cứu dịch chiết của Phyllanthus amarus, cho thấy dịch chiết dược liệu có hoạt tính kháng virus Herpes. Bảo vệ gan và chống viêm gan B Theo tác giả của “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, cao Diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ gan trên chuột cống trắng bị gây nhiễm độc gan bởi carbon- tetrachloride. Trong mô hình gây xơ gan thực nghiệm trên chuột cống trắng, Diệp hạ châu đắng có tác dụng làm giảm hàm lượng colagen trong máu và làm giảm mức độ xơ gan ở động vật điều trị so với đối chứng.
[4] Năm 1985, Syamasundara và các cộng sự của ông cho thấy tác dụng chống độc gan của P. amarus trên tế bào gan chuột nuôi cấy sơ cấp. Nhóm nghiên cứu đã chứng minh các đặc tính bảo vệ gan của các hợp chất lignan như: phyllanthin, hypophyllanthin và triacontanol đối với độc tính tế bào do carbon-tetrachloride và galactosamine gây ra. [47] 7 Bằng cách đánh giá tổn thương gan do aflatoxin B1 gây ra ở chuột, nhóm nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng bảo vệ gan của chiết xuất ethanol từ P.
[29] Các nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy tác dụng bảo vệ của chiết xuất nước từ P. amarus đối với tổn thương gan chuột do ethanol gây ra. [33] Năm 2011, Surya Narayanan và cộng sự chứng minh được P. amarus là một tác nhân chống xơ hóa hiệu quả, bằng cách phân tích tác dụng của dược liệu đối với hoạt động của metallicoproteinase (MMP), các chất ức chế mô của metallicoproteinase (TIMPs) trong ethanol và tác dụng trên chuột Wistar bạch tạng đực bị gây xơ gan do acid béo không no bị oxy hóa nhiệt (PUFA).
[46] Năm 2012, Londhe và cộng sự tiến hành nghiên cứu in vivo cho thấy rằng các tanin thuỷ phân như geraniin và amariin được phân lập từ P. amarus rất hữu ích trong việc khôi phục tế bào bị gây độc do ethanol trong các lát gan của chuột, bằng cách giảm tổn thương oxy hóa đối với các phân tử sinh học và cũng ngăn ngừa quá trình chết theo chương trình. Tác dụng chống oxy hoá Dịch chiết methanol của Phyllanthus amarus được phát hiện là có hoạt tính chống oxy hóa tiềm năng vì nó có thể ức chế quá trình peroxid hóa lipid và loại bỏ các gốc hydroxyl và superoxide trong ống nghiệm. Lượng cần thiết để ức chế 50% sự hình thành lipid peroxide là 104 μg/ml và nồng độ cần thiết để loại bỏ các gốc hydroxyl và superoxide lần lượt là 117 và 19 mg/ml [35].
Các phương pháp xử lý sấy khô khác nhau đã làm giảm đáng kể đặc tính chống oxy hóa của cao chiết xuất từ P. amarus bằng metanol. [21] Hoạt tính chống oxy hóa của một số thành phần chính trong P. amarus như amariin, (DHHDP)-glucose, acid repandusinic, geraniin, corilagin, phyllanthusiin D, rutin và quercetin 3-O-glucoside đã được kiểm tra về khả năng loại bỏ các gốc tự do trong nhiều hệ thống bao gồm DPPH, (ABTS)/ferlmyoglobin, khả năng chống oxy hóa khử sắt (FRAP) và xung phóng xạ.
Các hợp chất này cho thấy hoạt động chống oxy hóa đáng kể với hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào các thử nghiệm được sử dụng. Amariin, acid repandusinic và phyllanthusiin D cho thấy khả năng chống oxy hóa cao hơn hoạt động của các ellagitannin và có thể so sánh với các flavonoid như rutin và quercetin 3- O-glucoside. amarus dường như hoạt động như một chất chống oxy hóa tự nhiên in vivo và là chất bảo vệ dạ dày hiệu quả tương đương với cimetidine. amarus cũng có thể chống lại tác dụng gây hại của rượu đối với gan.
[42] 8 Phyllanthin làm giảm bớt độc tính do CCl4 gây ra trên dòng tế bào HepG2 bằng cách làm giảm quá trình stress - oxy hóa. [19] Hoạt tính chống gốc tự do của P. amarus được xác định được đánh giá bằng cách sử dụng mô sẹo trong ống nghiệm, cho thấy rằng chiết xuất methanol chứa lượng hợp chất phenolic cao nhất và thể hiện hoạt tính chống oxy hóa lớn nhất so với các chiết xuất khác. Tác dụng điều trị đái tháo đường Dịch chiết methanol của Phyllanthus amarus được phát hiện là làm giảm 6% lượng đường trong máu ở chuột mắc bệnh tiểu đường sử dụng alloxan ở mức liều 200 mg/kg trọng lượng cơ thể và giảm 18,7% lượng đường trong máu.
[35] Dịch chiết nước - methanol của P. amarus được sử dụng ở Togo để điều trị bệnh tiểu đường và nhiều bệnh khác, kết quả làm giảm đáng kể mức đường huyết sau 15 ngày sử dụng.