ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nƣớc nhiệt đới gió mùa nằm ở khu vực Đông Nam Á, với nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú. Theo thống kê về thực vật Việt Nam: có 16.928 loài, trong đó thực vật bậc thấp là 4.528 loài, thực vật bậc cao có mạch là 11.458 loài, gồm hơn 4000 loài là cây dƣợc liệu; Về động vật: có 310 loài thú, 870 loài chim, 367 loài bò sát, 176 loài lƣỡng cƣ, 1.100 loài cá nƣớc ngọt, 2.038 loài cá biển và khoảng 7.750 loài côn trùng, thêm vào đó có hàng chục ngàn loài động vật không xƣơng sống ở cạn, ở nƣớc ngọt và ở biển và đặc biệt nhiều loài động vật đặc hữu, quý hiếm đã đƣợc phát hiện… Tuy nhiên, nhiệm vụ bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các cơ quan chức năng cũng nhƣ toàn xã hội. Việt Nam có mật độ dân số cao, một bộ phận lớn dân cƣ sống bằng nghề nông - lâm nghiệp với phƣơng thức sản xuất canh tác nặng về khai thác tài nguyên thiên nhiên làm cho tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) suy thoái trầm trọng. Ở nƣớc ta, trong những năm qua, Quốc hội đã có những quyết sách quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học bằng việc thông qua các Luật nhƣ: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (sửa đổi bổ sung năm 2004); Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2003 và 2013); Luật bảo vệ môi trƣờng năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2005 và 2014); Luật tài nguyên nƣớc năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).
Đặc biệt ngày 13/11/2008 Việt Nam đã ban hành Luật Đa dạng sinh học. Theo đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2010/NĐ-CP, ngày 11/06/2010 quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều Luật Đa dạng sinh học. Ngày 19/03/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng có công văn số 882/BTNMT- TCMT gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng đề nghị triển khai 2 thực hiện Chiến lƣợc Quốc gia về đa dạng sinh học và Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Việt Nam đã tham gia Công ƣớc quốc tế CITES và cũng ban hành các văn bản chỉ thị nhằm bảo vệ và phát triển ĐDSH nói chung, bảo vệ và phát triển ĐVHD (ĐVHD) nói riêng, dựa trên hai nhóm biện pháp chính là bảo tồn nguyên vị và bảo tồn chuyển vị.
Nhƣ vậy, việc chăn nuôi một số loài ĐVHD không vi phạm Công ƣớc quốc tế đƣợc Chính phủ Việt Nam khuyến khích cho phép chăn nuôi nhằm: Chăn nuôi ĐVHD góp phần bảo tồn ngân hàng gen vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã tích lũy trong hàng triệu năm, làm nguồn gốc của tất cả các loài động vật chăn nuôi trong gia đình hiện nay, có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh cân bằng sinh thái trong tự nhiên. Ngoài việc góp phần hạn chế săn bắt ĐVHD ngoài tự nhiên và bảo vệ ĐDSH, chăn nuôi ĐVHD tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn. Các trang trại chăn nuôi góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm cho ngƣời lao động và nâng cao thu nhập. Trong nhiều năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của xã hội thì nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao dẫn đến việc lạm dụng quá mức tài nguyên rừng đặc biệt là việc săn bắn, bẫy, bắn, giết mổ các loài động vật rừng trái phép làm suy giảm ngày càng cạn kiệt tài nguyên động vật.
Để phục vụ nhu cầu xã hội nói chung và góp phần bảo vệ ĐVHD thì yêu cầu thực tế đặt ra cần phải quản lý chặt chẽ việc săn bắt, buôn bán nguồn ĐVHD đồng thời cấp phép chăn nuôi để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trƣờng. Chăn nuôi các loài ĐVHD một mặt bảo tồn đƣợc loài trong tự nhiên, mặt khác đem lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời chăn nuôi. Hiện nay nghề nuôi ĐVHD đang trở thành nghề kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế, thu nhập 3 cao, ổn định cuộc sống. Nghề nuôi ĐVHD hiện nay đang phát triển tốt trong cả nƣớc nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng.
Phú Thọ là tỉnh có tính ĐDSH cao thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lƣu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc đƣợc thiên nhiên ƣu đãi cho nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Với nguồn tài nguyên rừng, đất rừng, khoáng sản phong phú và có nhiều loài động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm và đặc hữu tập trung chủ yếu tại các khu bảo tồn nhƣ: Vƣờn Quốc gia Xuân Sơn, khu Bảo vệ cảnh quan Đền Hùng, khu Bảo vệ cảnh quan Núi Nả. Dù có tính đa dạng cao nhƣ vậy song do tác động của con ngƣời trong những năm gần đây đã làm cho số loài và số lƣợng cá thể của các loài động vật, thực vật đặc sản, quý hiếm trên địa bàn tỉnh đang bị suy giảm nghiêm trọng, các giống bản địa bị mất dần do sự du nhập của các giống mới hay các loài sinh vật ngoại lai. Dƣới nhiều tác động tiêu cực nhƣ hiện nay nếu không có những biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học kịp thời và quyết liệt thì nguy cơ suy giảm tài nguyên động, thực vật và tuyệt chủng các giống loài quý hiếm là một xu thế tất yếu.
Bên cạnh việc suy giảm sự ĐDSH là sự xuất hiện một số loài sinh vật xâm hại có sức sống mạnh, cạnh tranh về môi trƣờng sống, nguồn thức ăn của các loài bản địa cũng là một nguyên nhân. Việc quản lý đến nay hầu nhƣ vẫn chƣa có đƣợc những tiến bộ mang tính đột phá là do chƣa có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng. Hay nói một cách khác là cần có một sự thay đổi trong toàn xã hội về quản lý bảo vệ đa dạng sinh học và thiên nhiên, trong đó công việc chăn nuôi ĐVHD góp một vị trí quan trọng. Nghề chăn nuôi ĐVHD đã mang lại nguồn lợi kinh tế và tạo thêm công ăn việc lầm cho một phần lao động.
Số lƣợng loài, số các hộ gia đình, cơ sở chăn nuôi và quy mô chăn nuôi đã khiến hiệu quả hoạt động này chƣa thực sự cao. Mặt khác, việc phát triển các cơ sở chăn nuôi còn mang tính tự phát, kỹ 4 thuật chăn nuôi hạn chế khiến sản phẩm chƣa có tính cạnh tranh cao, chƣa đáp ứng đƣợc các thị trƣờng tiêu dung khó tính, đặc biệt thị trƣờng ngoài nƣớc. Chăn nuôi ĐVHD đã không chỉ coi là một nghề để phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về mặt bảo tồn đa dạng sinh học cũng nhƣ bảo vệ các loài ĐVHD ngoài tự nhiên. Hoạt động gián tiếp làm giảm áp lực của việc săn bắt, khai thác tài nguyên động vật ngoài tự nhiên đồng thời có thể bảo tồn đƣợc các loài nguy cấp, quý hiếm đặc biệt tại các cơ sở nhân nuôi với mục đích bảo tồn.
Phú Thọ là địa phƣơng có tổng diện tích tự nhiên là 3.519,56 km2,, nguồn lao động dồi dào trong đó phần lớn sống bằng nghề nông, lâm nghiệp. Đây là cơ sở, điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động chăn nuôi ĐVHD tại đây. Để hoạt động chăn nuôi ĐVHD thực sự trở thành một nghề đem lại hiệu quả kinh tế cao thì các nhà quản lý cần đƣa ra chƣơng tình, quy hoạch tổng thể với các định hƣớng rõ ràng, chi tiết. Hiện tại chƣa có công trình nghiên cứu chăn nuôi ĐVHD tại tỉnh Phú Thọ, xuất phát từ hiện trạng nêu trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi ĐVHD trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và đề xuất các giải pháp quản lý”.
Kết quả của đề tài là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chăn nuôi ĐVHD ở địa phƣơng. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Do nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, con ngƣời đã khai thác, săn bắn quá mức các loài ĐVHD làm cho nguồn tài nguyên này đang ngày càng trở nên cạn kiệt, hầu hết các loài quý hiếm, có giá trị cao đều đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng hoặc không còn khả năng khai thác. Trƣớc thực tế đó nghề chăn nuôi, thuần dƣỡng các loài ĐVHD đã phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời giảm áp lực săn bắt ĐVHD và bảo tồn ĐDSH.
Chăn nuôi ĐVHD không những mang laị hiệu quả kinh tế cao mà nó còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo tồn hoặc cứu nguy các nguồn gen đang có nguy cơ bị tiệt chủng. Theo Conway (1998), hiện nay tại các vƣờn động vật trên thế giới đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xƣơng sống ở cạn, đại diện cho 3.000 loài chim, thú, bò sát, ếch nhái. Mục đích phần lớn của các vƣờn động vật hiện nay là chăn nuôi các quần thể động vật quý hiếm, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và phục vụ thăm quan du lịch giải trí và bảo tồn ĐDSH. Việc nghiên cứu trong các vƣờn động vật cũng đang đƣợc chú trọng, các nhà khoa học đang cố gắng tìm các giải pháp tối ƣu để nhân giống, phát triển số lƣợng các loài ĐVHD.
Tuy nhiên, về kỹ thuật chăn nuôi, sinh thái và tập tính cũng nhƣ việc thả chúng về môi trƣờng tự nhiên có nhiều vấn đề đặt ra cho công tác chăn nuôi ĐVHD cần phải giải quyết. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đức và Thái Lan là các quốc gia có nghề chăn nuôi ĐVHD phát triển. Tuy nhiên, nguồn tài liệu về chăn nuôi ĐVHD hiện nay là rất hạn chế. Các nghiên cứu về chăn nuôi ĐVHD Một báo cáo từ năm 2011 cho biết, Việt Nam có hơn 10.000 cơ sở nuôi ĐVHD đã đăng ký với cơ quan chức năng ở 63 tỉnh thành trên cả nƣớc.
Có 3 triệu cá thể ĐVHD thuộc 70 loài đang đƣợc nuôi, trong đó có bốn nhóm loài chính: là trăn, cá sấu, khỉ đuôi dài và rắn các loại. Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ là hai khu vực nuôi ĐVHD lớn nhất (chiếm 70%), tiếp theo là đồng bằng sông Hồng (20%). Một số khu vực có thể kể đến là Mƣờng Thanh Safari Land thuộc Khu sinh thái Mƣờng Thanh Diễn Lâm đƣợc đánh giá là vƣờn thú lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ với tổng diện tích lên tới 60 ha.