Luận án tiến sĩ nghiên cứu chẩn đoán viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật có ứng dụng pcr thời gian thực và đánh giá kết quả điều trị

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu chẩn đoán viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật có ứng dụng pcr thời gian thực và đánh giá kết, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Chuyên ngành

Nhãn Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2023

159
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

1.2. Định danh tác nhân gây VMNN sau phẫu thuật

1.3. PCR thời gian thực trong chẩn đoán viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

1.4. Điều trị viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

1.5. Tình hình nghiên cứu về viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu của nghiên cứu

2.5. Xác định các biến số độc lập và phụ thuộc. Phương pháp, công cụ đo lường, thu thập số liệu

2.6. Qui trình nghiên cứu

2.7. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

3.2. Phổ tác nhân gây viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

3.3. Kết quả điều trị viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

4.2. Phổ tác nhân gây viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

4.3. Kết quả điều trị viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

Viêm mủ nội nhãn (VMNN) là tình trạng viêm nghiêm trọng của các mô nội nhãn do nhiễm khuẩn, thường xảy ra sau phẫu thuật mắt. Bệnh đe dọa nghiêm trọng đến thị lực và đòi hỏi can thiệp kịp thời. VMNN sau phẫu thuật được phân loại thành cấp tính (xảy ra trong vòng 6 tuần) và muộn (sau 6 tuần). Tỉ lệ VMNN cấp tính sau phẫu thuật đục thủy tinh thể dao động từ 0.03% đến 0.2%, trong khi VMNN sau phẫu thuật cắt dịch kính có tỉ lệ thấp hơn (0% - 1.3%). Các triệu chứng lâm sàng bao gồm giảm thị lực, đau nhức mắt, cương tụ kết mạc và phù nề mi mắt. Cơ chế gây tổn thương võng mạc liên quan đến độc tố vi khuẩn và phản ứng viêm, dẫn đến các tổn thương không hồi phục như hoại tử võng mạc và phù hoàng điểm.

1.1. Định nghĩa và phân loại

Viêm mủ nội nhãn là tình trạng viêm của các mô nội nhãn do nhiễm khuẩn, thường xảy ra sau phẫu thuật mắt. Bệnh được phân loại thành VMNN cấp tính (xảy ra trong vòng 6 tuần) và VMNN muộn (sau 6 tuần). VMNN cấp tính thường liên quan đến phẫu thuật đục thủy tinh thể, trong khi VMNN muộn ít gặp hơn và thường liên quan đến các phẫu thuật khác như cắt bè củng mạc hoặc tiêm thuốc vào khoang dịch kính.

1.2. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng của viêm mủ nội nhãn bao gồm giảm thị lực (94%), cương tụ kết mạc (82%), đau nhức mắt (74%) và phù nề mi mắt (35%). Triệu chứng thực thể bao gồm phù giác mạc, vẩn đục tiền phòng, mủ tiền phòng và vẩn đục dịch kính. VMNN muộn thường có triệu chứng nhẹ hơn và tiến triển chậm hơn so với VMNN cấp tính.

II. Chẩn đoán viêm mủ nội nhãn bằng PCR thời gian thực

Chẩn đoán viêm mủ nội nhãn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tác nhân gây bệnh và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả. PCR thời gian thực là kỹ thuật sinh học phân tử có độ nhạy cao, cho phép phát hiện các tác nhân vi khuẩn và nấm trong thời gian ngắn (khoảng 5 giờ). Kỹ thuật này vượt trội so với phương pháp nuôi cấy truyền thống, vốn có tỉ lệ dương tính thấp (25% - 56%) do hạn chế về số lượng mẫu và ảnh hưởng của kháng sinh tiêm nội nhãn. PCR thời gian thực không yêu cầu vi sinh vật sống, giúp phát hiện các tác nhân khó nuôi cấy như vi nấm và vi khuẩn kị khí.

2.1. Ưu điểm của PCR thời gian thực

PCR thời gian thực có độ nhạy cao, cho phép phát hiện các tác nhân vi khuẩn và nấm trong thời gian ngắn (khoảng 5 giờ). Kỹ thuật này không yêu cầu vi sinh vật sống, giúp phát hiện các tác nhân khó nuôi cấy như vi nấm và vi khuẩn kị khí. So với phương pháp nuôi cấy truyền thống, PCR thời gian thực có tỉ lệ dương tính cao hơn và thời gian chẩn đoán nhanh hơn.

2.2. So sánh với phương pháp nuôi cấy

Phương pháp nuôi cấy truyền thống có tỉ lệ dương tính thấp (25% - 56%) do hạn chế về số lượng mẫu và ảnh hưởng của kháng sinh tiêm nội nhãn. PCR thời gian thực vượt trội hơn với độ nhạy cao và thời gian chẩn đoán nhanh chóng, giúp cải thiện hiệu quả điều trị viêm mủ nội nhãn.

III. Điều trị viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật

Điều trị viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật là một thách thức lớn đối với các bác sĩ chuyên khoa. Phác đồ điều trị bao gồm tiêm kháng sinh nội nhãn và phẫu thuật cắt dịch kính. Nghiên cứu EVS khuyến cáo tiêm kháng sinh nội nhãn cho các trường hợp thị lực khởi đầu tốt hơn mức ST+, trong khi phẫu thuật cắt dịch kính được chỉ định cho các trường hợp thị lực thấp hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu CEVE đã mở rộng chỉ định cắt dịch kính, khuyến nghị phẫu thuật sớm hơn để giảm thiểu tổn thương võng mạc. Kết quả điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thị lực khởi đầu, tình trạng mắt lúc nhập viện và phác đồ điều trị được áp dụng.

3.1. Phác đồ điều trị

Phác đồ điều trị viêm mủ nội nhãn bao gồm tiêm kháng sinh nội nhãn và phẫu thuật cắt dịch kính. Nghiên cứu EVS khuyến cáo tiêm kháng sinh nội nhãn cho các trường hợp thị lực khởi đầu tốt hơn mức ST+, trong khi phẫu thuật cắt dịch kính được chỉ định cho các trường hợp thị lực thấp hơn. Nghiên cứu CEVE mở rộng chỉ định cắt dịch kính, khuyến nghị phẫu thuật sớm hơn để giảm thiểu tổn thương võng mạc.

3.2. Kết quả điều trị

Kết quả điều trị viêm mủ nội nhãn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thị lực khởi đầu, tình trạng mắt lúc nhập viện và phác đồ điều trị được áp dụng. Phẫu thuật cắt dịch kính được chỉ định rộng rãi hơn nhờ sự cải tiến về dụng cụ và kỹ thuật, giúp cải thiện kết quả điều trị về cả chức năng và giải phẫu.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật 1. Định nghĩa Viêm mủ nội nhãn là tình trạng viêm của các mô nội nhãn, hậu quả của sự xâm nhập tác nhân vi khuẩn vào bán phần sau của nhãn cầu. Viêm mủ nội nhãn ngoại sinh do tác nhân gây bệnh từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào nhãn cầu và thường gặp là biến chứng sau phẫu thuật nội nhãn: mổ đục thủy tinh thể, cắt dịch kính, cắt bè củng mạc…và tiêm thuốc vào buồng dịch kính, hay sau chấn thương.

Viêm mủ nội nhãn gây viêm nặng và phá hủy các cấu trúc nội nhãn đưa đến giảm thị lực trầm trọng hay mù tuyệt đối nhanh chóng có thể chỉ sau một hay vài ngày. Phân loại viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật 1. Viêm mủ nội nhãn khởi phát cấp tính sau phẫu thuật VMNN cấp tính sau phẫu thuật được định nghĩa là VMNN xảy ra trong vòng 6 tuần sau phẫu thuật. Đa số các trường hợp xảy ra sau phẫu thuật điều trị đục thủy tinh thể.

Tỉ lệ VMNN khởi phát cấp tính sau phẫu thuật thủy tinh thể dao động trong khoảng 0,03% - 0,2% [31], [64]. VMNN sau phẫu thuật cắt dịch kính với đường vào 23G hay 25G xảy ra với tỉ lệ khoảng 0% - 1,3% [34], [77]. VMNN sau các phẫu thuật khác ít gặp hơn như: ghép giác mạc xuyên, ấn độn củng mạc, đặt van dẫn lưu trong điều trị glaucoma [93].1: VMNN cấp tính sau phẫu thuật “Nguồn: David Seal, 2007” [25]. Viêm mủ nội nhãn khởi phát muộn sau phẫu thuật VMNN khởi phát muộn sau phẫu thuật được định nghĩa là VMNN khởi phát từ 6 tuần sau phẫu thuật.

VMNN khởi phát muộn sau phẫu thuật ít gặp hơn so với VMNN khởi phát cấp tính với tỉ lệ vào khoảng 1/3,5, và chỉ chiếm 7,2% trong tổng số trường hợp VMNN sau phẫu thuật. Tỉ lệ mới mắc được ước tính vào khoảng 0,02% [6]. Viêm mủ nội nhãn sau cắt bè củng mạc Viêm mủ nội nhãn liên quan tới bọng kết mạc sau cắt bè củng mạc có thể khởi phát cấp tính hay khởi phát muộn hơn sau phẫu thuật. Khởi phát muộn thường gặp hơn khởi phát cấp tính.

Thời gian từ khi phẫu thuật cho đến lúc khởi phát bệnh dao động thường gặp trong khoảng 1,5 năm tới 7 năm sau phẫu thuật. Tỉ lệ mắc bệnh là vào khoảng 0,17% tới 13,2% [9], [94]. Viêm mủ nội nhãn sau tiêm thuốc vào khoang dịch kính Tỉ lệ VMNN sau tiêm chất chống tăng sinh nội mô mạch máu (anti- VEGF) vào khoảng từ 0,02% tới 0,32% cho mỗi lần tiêm [29]. Do mỗi bệnh nhân thường được tiêm nhiều lần, tỉ lệ mắc bệnh trên từng người bệnh sẽ cao hơn.

Theo một phân tích tổng hợp lớn gồm 350.535 mũi tiêm trong 45 nghiên cứu công bố từ năm 2005 tới 2012 báo cáo tỉ lệ là 0,056% hay 1 lần tiêm trên 1779 lần tiêm [29]. Chẩn đoán lâm sàng viêm mủ nội nhãn 1. Triệu chứng cơ năng Theo nghiên cứu Cắt dịch kính trong viêm mủ nội nhãn (EVS) [74], các triệu chứng thường gặp trong VMNN khởi phát cấp tính sau phẫu thuật đục thủy tinh thể: giảm thị lực (94%), cương tụ kết mạc (82%), đau nhức mắt (74%), phù nề mi mắt (35%). Triệu chứng đau nhức mắt trong VMNN thường với cường độ đau trung bình tới nặng.

Các triệu chứng thường gặp khác như: nhìn thấy ruồi bay, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, chảy ghèn, đỏ mắt, 6 mi mắt sưng nề và không thể mở mắt được. Ngoài ra, triệu chứng của VMNN sau cắt bè củng mạc có thể gặp đau đầu, đau vùng cung mày. Triệu chứng thực thể + Kết mạc cương tụ , phù nề + Phù giác mạc có hay không kèm thâm nhiễm giác mạc, có thể thấy mủ bám tại đường mở giác mạc để vào tiền phòng + Vẩn đục tiền phòng do fibrin, tế bào viêm trong tiền phòng, vi khuẩn, do tăng nồng độ protein trong tiền phòng. Có thể có xuất huyết tiền phòng.

Có thể thấy mủ tiền phòng lắng đọng xuống dưới theo trọng lực. + Màng fibrin được hình thành bám dính mặt trước kính nội nhãn, thủy tinh thể, chắn ngang diện đồng tử. + Đồng tử co nhỏ, dính tít đồng tử + Vẩn đục dịch kính nhiều mức độ, có thể thấy những ổ mủ trong khoang dịch kính + Nếu có thể khám được võng mạc, có thể thấy bệnh võng mạc do VMNN: xuất huyết võng mạc, trắng quanh thành mạch, vùng hoại tử võng mạc, phù hoàng điểm, mủ đọng tại hoàng điểm [27]. + VMNN khởi phát muộn thường tiến triển chậm và có phản ứng viêm nhẹ.

So với VMNN khởi phát cấp tính VMNN khởi phát muộn sau phẫu thuật ít gặp mủ tiền phòng hơn, triệu chứng đau có thể có hoặc không, có thể có lắng đọng mặt sau giác mạc dạng u hạt. Triệu chứng thực thể thường gặp là mảng trắng trên bề mặt bao [80]. Cơ chế gây tổn thương võng mạc trong viêm mủ nội nhãn Một khi xâm nhập vào trong nhãn cầu, các tác nhân gây bệnh gây ra tình trạng viêm nghiêm trọng. Thành tế bào các vi khuẩn có thể gây độc và vi khuẩn có thể tiết ra nội độc tố hay ngoại độc tố cũng như các enzym có hại khác.

Độc lực của tác nhân gây bệnh trên lâm sàng biểu hiện bởi nhiễm trùng 7 khởi phát sớm sau phẫu thuật, bệnh tiến triển nhanh và có các triệu chứng trầm trọng. Độc tố vi khuẩn và sản phẩm của phản ứng viêm dẫn tới các bệnh lý võng mạc do nhiễm trùng như: hoại tử võng mạc lan rộng. Hỗn hợp dễ bay hơi gồm các sản phẩm phản ứng viêm, tác nhân gây bệnh, tế bào bạch cầu,.có trọng lượng lớn và có khuynh hướng “chìm” xuống điểm sâu nhất trong khoang dịch kính. Trong trường hợp bệnh nhân nằm nhiều các sản phẩm này lắng đọng tại hoàng điểm và gây tổn thương hoàng điểm.

Cơ chế gây tổn thương võng mạc theo các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật là do các độc tố được sản xuất và đáp ứng viêm của cơ thể, các quá trình này có thể xảy ra rất nhanh do đó cần phải nhanh chóng lấy đi các độc tố và chất gây viêm này. Theo nghiên cứu EVS và nghiên cứu của Dib, bệnh lý hoàng điểm viêm mủ nội nhãn (endophthalmitis maculopathy) hay tụ mủ hoàng điểm (macular hypopyon) là nguyên nhân gây giảm thị lực [27], [74]. Bệnh lý này bao gồm các tổn thương có thể điều trị như phù hoàng điểm, tăng sinh trước hoàng điểm và các tổn thương không thể hồi phục như teo hoàng điểm. Phẫu thuật cắt dịch kính cũng nhằm lấy đi mủ tích tụ tại hoàng điểm để cứu vãn thị lực cho người bệnh.

Các tác động của độc tố vi khuẩn và phản ứng viêm của cơ thể có thể gây ra tổn hại vĩnh viễn không thể cải thiện. Ngay cả khi các phẫu thuật điều trị sửa chữa thành công về mặt giải phẫu, sự phục hồi về mặt chức năng cũng không hoàn toàn. Các biến chứng làm tổn hại thị lực trầm trọng như phù hoàng điểm dạng nang, màng trước hoàng điểm có thể là do đáp ứng của cơ thể hơn là do tổn thương trực tiếp bởi tác nhân gây bệnh.2: Tụ mủ hoàng điểm “Nguồn: Dib,2020” [27] 1. Phổ tác nhân gây bệnh theo loại viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật 1.

Viêm mủ nội nhãn cấp tính sau phẫu thuật Nguồn gốc của nhiễm khuẩn nội nhãn trong phần lớn các trường hợp VMNN cấp tính sau phẫu thuật là quần thể vi khuẩn thường trú trên bề mặt nhãn cầu và da mi người bệnh. Theo một nghiên cứu trên bệnh nhân VMNN do cầu khuẩn coagulase âm sau mổ đục thủy tinh thể thì vi khuẩn phân lập trong mẫu dịch nội nhãn tương đồng với vi khuẩn phân lập từ da mi trong 68% trường hợp. Ngoài ra, một số dụng cụ phẫu thuật hay chất liệu để bơm nội nhãn trong lúc mổ bị nhiễm khuẩn cũng là nguồn bệnh VMNN như một loạt ca VMNN sau mổ đục thủy tinh thể do Fusarium oxysporum từ chất nhầy [17]. Theo nghiên cứu EVS trên bệnh nhân VMNN sau mổ đục thủy tinh thể do vi khuẩn, trong số các trường hợp cấy bệnh phẩm dương tính, 94,2% là vi khuẩn Gram - dương [74].

Trong số đó, tụ cầu khuẩn coagulase âm là tác nhân thường gặp nhất (70%), tác nhân thường gặp tiếp theo là Staphylococcus aureus (9,9%) và Streptococcus (9%), vi khuẩn Gram - âm (6,5%). Tương tự nghiên cứu của Chiquet và nhóm nghiên cứu FRIENDS trên 100 mắt VMNN cấp sau mổ đục thủy tinh thể tại Pháp cũng báo cáo tác 9 nhân Gram - dương chiếm ưu thế 94,3% [20]. Trái lại theo nghiên cứu của Joseph và cộng sự tại Ấn Độ, tác nhân Gram - dương chỉ chiếm 54,1%, tác nhân Gram - âm chiếm 45,9% [48]. Theo nghiên cứu tại Hà Lan của Pjil và cộng sự, có khoảng 2,4% trường hợp VMNN cấp dương tính với đa vi khuẩn gây bệnh [71].

Một nghiên cứu khác của Chen tại Đông Bắc Mỹ cho biết tỉ lệ VMNN do đa vi khuẩn gây bệnh có thể lên tới 11,9% [19]. VMNN sau mổ cắt dịch kính ít gặp hơn đáng kể so với VMNN sau phẫu thuật thủy tinh thể nhưng phổ tác nhân gây bệnh tương tự nhau: Staphylococcus coagulase âm tính cũng là tác nhân thường gặp nhất của VMNN cấp sau phẫu thuật cắt dịch kính [24], [77]. Theo đa số các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ và EVS, không có trường hợp nào VMNN khởi phát cấp tính do nấm được ghi nhận. Tuy nhiên theo Wykoff nghiên cứu tại viện mắt Bascom Palmer ở Miami – Mỹ từ năm 1990 tới năm 2006 có 13 trường hợp VMNN sau phẫu thuật do nấm chủ yếu là các loài Aspergillus chiếm tỉ lệ 38%, các loài Candida chiếm tỉ lệ 23% [96].

Theo tác giả Chen nghiên cứu từ năm 1988 tới 2008, VMNN sau phẫu thuật do nấm chiếm tỉ lệ 6,9% trong phổ tác nhân gây bệnh [19]. Ngoài ra, có một số báo cáo từ Ấn Độ cho biết có tỉ lệ nhiễm nấm cao sau phẫu thuật từ 17% tới 22% [11], [66], thậm chí 70% [56], trong đó Aspergillus cũng là tác nhân thường gặp nhất. Viêm mủ nội nhãn muộn sau phẫu thuật VMNN khởi phát muộn sau phẫu thuật được định nghĩa là VMNN khởi phát từ 6 tuần sau phẫu thuật. Trong VMNN khởi phát muộn, tác nhân gây bệnh đứng hàng đầu là Propionibacterium acnes gặp trong 41% - 63% trường hợp và nấm là tác nhân gây bệnh thường gặp đứng thứ hai chiếm 16% - 27% các trường hợp [6], [80].

Ngoài ra, theo Al-Mezaine có tới 17,6% trường hợp nhiễm đa khuẩn [6]. Các loài Staphylococcus cũng được báo cáo 10 trong phổ tác nhân gây VMNN muộn với bệnh cảnh tương tự như Propionibacterium acnes, nhưng trong trường hợp này thường là các loài có độc lực yếu hơn như Staphylococcus coagulase âm [80].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu chẩn đoán viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật bằng PCR thời gian thực và đánh giá hiệu quả điều trị là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng kỹ thuật PCR thời gian thực để chẩn đoán chính xác tình trạng viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp phương pháp chẩn đoán hiện đại mà còn đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị, mang lại giá trị lớn cho các bác sĩ nhãn khoa và nhà nghiên cứu y học. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực chẩn đoán và điều trị các bệnh lý về mắt.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng khoa học trong y học, bạn có thể tham khảo thêm 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, một tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực y khoa. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người cũng là một tài liệu thú vị, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe. Cuối cùng, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng sẽ cung cấp những giải pháp thiết thực để tối ưu hóa quy trình nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng khoa học trong y học và các lĩnh vực liên quan.