Chương 1. Lịch sử phát triển và ưng dụng của BaTiO3 Một trong số các họ vật liệu đang dành được sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt vì hứa hẹn sẽ đáp ứng được những yêu cầu rất cao của khoa học và công nghệ hiện đại là vật liệu đa pha điện từ (multiferroics). Multiferroics là tên gọi những vật liệu đồng tồn tại cả hai trạng thái sắt điện và sắt từ trong cùng một pha vật liệu. Điều đặc biệt hơn là từ độ của vật liệu có thể được điều khiển bằng điện trường ngoài và ngược lại độ phân cực điện môi có thể được điều khiển bằng từ trường ngoài.
Các vật liệu multiferroics trong tự nhiên rất hiếm do đặc trưng tương tác quyết định đặc trưng sắt điện và sắt từ thông trường trái ngược nhau. Trong họ vật liệu ATiO3 có cấu trúc perovskite, đặc trưng sắt điện của vật liệu được quyết định bởi lớp 3d trống trong khi đó đặc trưng sắt từ của vật liệu được quyết định bởi lớp 3d không điền đầy. Chính vì vây,đa số các vật liệu multiferroics được biết đến hiện nay là vật liệu nhân tạo. Có một số phương pháp đểchế tạo ra vật liệu multiferroics như đưa các tạp chất từ tính vào mạng tinh thể của vật liệu sắt điện (cách làm này giống như cách tạo ra các chất bán dẫn từ pha loãng), tổ hợp composite giữa vật liệu sắt điện và sắt từ, cải thiện đặc trưng sắt điện-sắt từ của một số vật liệu multiferroic có sẵn trong tự nhiên v.
Việc phát triển vật liệu multiferroic BaTiO3 đã được nghiên cứu khá nhiều không những ở trên thế giới mà còn ở trong nước. Tuy nhiên, đặc trưng quang học của họ vật liệu BaTiO3 này vẫn còn để ngỏ. Vật liệu sắt điện có đặc trưng và tồn tại các mô-men phân cực điện tự phát. Khi hấp thụ năng lượng của phô-ton quang phù hợp, cặp quang-điện tử- lỗ trống sẽ xuất hiện.
Dưới tác dụng của mô-men phân cực tự phát và đo đó gây khó khăn cho khả năng tái hợp của cặp quang-điện tử-lỗ trống này. Chính vì vậy, khả năng phát quang của vật liệu sắt điện rất yêu hoặc hầu như không phát quang. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu tiến hành tổng quan một số đặc trưng cơ bản của vật liệu BaTiO3 từ đó định hướng cho các nghiên cứu cở bản của luận văn. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, nhu cầu về những thiết bị, vật liệu nhỏ gọn, hiệu suất cao cho cuộc sống hiện đại ngày càng tăng, đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu để tìm ra những loại vật liệu mới có những tính chất ưu PL2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việt để đáp ứng những nhu cầu đó.
BaTiO 3 là vật liệu thuộc họ perovskite và nó mang những tính chất đặc trưng của vật liệu perovskite đặc biệt là tính chất điện và tính chất từ [16]. BaTiO3 là vật liệu có hằng số điện môi lớn, có thể dao động từ 1000 đến 2000 ở nhiệt độ phòng và có thể lên đến 104 ở gần nhiệt độ Curie (nhiệt độ Curie của BaTiO3 cỡ 120 ºC) [2]. Vật liệu BaTiO3 được sử dụng trong các ngành công nghiệp điện và điện từ. Một số ứng dụng đáng chú ý của vật liệu BaTiO 3 như dùng làm tụ điện trong các bộ nhớ máy tính như đã có trong liệt kê viết tắt DRAM, FRAM và NVRAM, chế tạo tụ điện gốm đa lớp MLC (Multilayer Ceram Capacitor) hay MLCC (Multilayer Ceramic Chip Capacitor), làm các cảm biến [12].
Bên cạnh đó, BaTiO 3 cũng được ứng dụng để chế tạo vật liệu dạng màng dùng trong các thiết bị điện tử. Hạt áp điện BaTiO3 ở kích cỡ nanomet có thể được phân tán trong nền polymer để chế tạo các sensor cảm biến nhiệt hoặc khí [20]. Ngày nay, tính chất quang của vật liệu perovskite cũng đã bắt đầu được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là các hạt nano perovskite phát quang mạnh với tiềm năng ứng dụng trong việc đánh dấu các phân tử sinh học, cảm biến sinh học, phát hiện các tế bào ung thư [22]. Vì vậy, việc nghiên cứu các tính chất quang học của vật liệu này đóng vai trò hết sức quan trọng.
Đặc trưng cấu trúc và tính chất của vật liệu BaTiO3 1. Đặc trưng cấu trúc Tuỳ thuộc vào nhiệt độ mà vật liệu BTO có thể tồn tại ở các dạng cấu trúc không gian khác nhau. Quá trình chuyển pha cấu trúc và nhiệt độ chuyển pha của vật liệu. PL3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nhiệt độ trên 1460 °C vật liệu có cấu trúc lục giác (Hexagonal), dưới 1460 ºC, vật liệu có cấu trúc lập phương (Cubic), khi giảm nhiệt độ xuống đến 120°C, vật liệu có cấu trúc tứ giác (Tetragonal).
Chuyển pha lập phương - tứ giác cũng kèm theo sự biến đổi bất thường của hằng số điện môi và đây cũng chính là nhiệt độ chuyển pha sắt điện - thuận điện (TC) của vật liệu. Cấu trúc lập phương của BTO Cấu trúc dạng khối của BaTiO3 với vị trí 8 đỉnh của hình lập phương được chiếm bởi cation Ba2+, tâm của 6 mặt hình lập phương là vị trí của anion O2- và tâm của hình lập phương là vị trí của cation Ti4+. Trong cấu trúc này, cation Ti4+ được bao quanh bởi 8 cation Ba2+ và 6 anion O2-, còn quanh mỗi vị trí cation Ba 2+ được bao quanh bởi 12 anion O2-. Ô mạng cơ sở là một hình lập phương, trên Hình 1.3, với các tham số mạng a = b = c =? Å và α = β = γ = 90º.
Trong cấu trúc này, cation Ti 4+ được bao quanh bởi 8 cation Ba 2+ và 6 anion O2-, còn quanh mỗi vị trí cation Ba 2+ được bao quanh bởi 12 anion O2-. Cấu trúc lập phương của BTO 1. Cấu trúc tứ giác của BTO Cấu trúc tứ giác thể hiện trên Hình 1.3 của vật liệu BTO được xác định bền trong khoảng nhiệt độ 5 °C đến 120 °C, đây là cấu trúc thuộc nhóm không gian P4mm (C4v) và có hằng số mạng là a = b = 3. PL4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cấu trúc tứ giác của BTO [6] Trong cấu trúc này ta có thể hình dung là hai đáy của ô mạng lập phương bị “kéo dãn” làm cho khoảng cách giữa các ion O2- nằm ở tâm 2 đáy tăng lên, kết quả là ion Ti4+ bị dịch đi dọc theo trục c và gây ra sự phân cực tự phát trong ô mạng. Cấu trúc lục giác của BTO Cấu trúc lục giác của BTO và vị trí của các nguyên tử được trình bày như trên Hình 1. Cấu trúc lục giác của BTO [5] Pha lục giác của tinh thể BaTiO 3 ở nhiệt độ cao thuộc nhóm không gian P63/mmc với các hằng số mạng tương ứng là a = 5. Trong pha này, các nguyên tử cũng bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu của chúng.
PL5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyển pha lục giác - lập phương ở nhiệt độ cao chỉ thu hút được sự quan tâm trong thời gian gần đây [18]. Các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy [18], [10] sự hình thành của pha lục giác thường kèm theo sự hình thành của nút khuyết oxy trong các lớp BaO3 và sự thay đổi kích thước của mạng tinh thể chủ yếu do sự tăng khoảng cách giữa Ti(2) –Ti(2). Những thay đổi như vậy phù hợp với sự tăng lực Coulomb giữa các ion Ti(2) lân cận khi các ion oxy bị lấy đi khỏi các mặt chung. Tính chất cơ bản của vật liêu BaTiO3 Khi không pha tạp, BaTiO3 thể hiện tính chất điện môi, tính chất của vật liệu này phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ.
Dưới đây là một vài tính chất đặc trưng của vật liệu này. Tính chất điện môi Do phụ thuộc mạnh vào phương pháp chế tạo (độ tinh khiết, kích thước hạt v.v) , tần số, nhiệt độ và tạp chất nên giá trị hằng số điện môi của vật liêu BTO được công bố rất phân tán với nhiều giá trị khác nhau thể hiện ở Bảng 1. Nhiều công bố cho thấy hằng số điện môi tại Tc có thể đạt đến 7000. Phần thực hằng số điện môi của vật liệu BTO tại nhiệt độ phòng và nhiệt độ chuyển pha Curie TC Hằng số điện Phương Nhiệt độ thiêu Hằng số môi ε tại nhiệt điện môi ε Tần số pháp chế tạo kết Ts°C độ phòng Tr tại Tc Sol-gel 1200/1300 500-650/ - 1MHz 20 phút 700-900 Thủy nhiệt 1250/2h 2000 7000 1 kHz Thủy nhiệt 900/2h 6900 11000 - Gốm 1260/1-5h ≥ 5000 10000 1 kHz Hóa cơ kim 1330/2h 2500 7500 100 kHz Đồng kết tủa 1350/4h 2200 8000 1,10,100 kHz Oxalate PL6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ta thấy rằng hằng số điện môi tại bất kỳ giá trị tần số nào cũng tăng nhanh chóng theo nhiệt độ đến một giá trị cực đại sau đó giảm.
Tại giá trị cực đại của tần số ứng với nhiệt độ chuyển pha sắt điện - thuận điện Curie (T C). Nói chung, hằng số điện môi của bất kỳ vật liệu nào cũng đều chịu sự ảnh hưởng bởi các lưỡng cực, điện tử, ion và các phân cực bề mặt. Sự phụ thuộc hằng số điện môi theo nhiệt độ tại các tần số khác nhau 1 kHz, 10 kHz, 100 kHz và 1 MHz của vật liệu gốm BTO được thể hiện trên Hình 1. Tính chất sắt điện Hiện tượng sắt điện (Ferroelectricity) là hiện tượng xảy ra ở một số chất điện môi có độ phân cực điện tự phát ngay cả không có điện trường ngoài, và do đó trở nên hưởng ứng mạnh dưới tác dụng của điện trường ngoài.
Khái niệm về sắt điện trong các vật liệu mang các tính chất điện, tương ứng với khái niệm sắt từ trong nhóm các vật liệu có tính chất từ. Nếu như tính chất sắt từ được phát hiện, nghiên cứu và sử dụng từ rất sớm, thì tính sắt điện lại được phát hiện khá muộn trong lịch sử vào năm 1920 ở muối Rochelle bởi Valasek [20]. Tiếp đầu ngữ sắt được sử dụng do sự tương ứng tính chất này mặc dù trong hầu hết các vật liệu sắt điện không hề có chứa sắt. Độ phân cực tự phát: Mômen lưỡng cực điện trong chất sắt điện có độ lớn cao, đồng thời có tương tác với nhau (tương tự như tương tác trao đổi trong các chất sắt từ) nên tạo ra sự khác biệt so với các chất điện khác: PL7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.