CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1. Lịch sử và các mốc phát triển quan trọng Siêu dẫn là trạng thái điện trở suất của vật liệu biến mất tại một nhiệt độ xác định, lớn hơn không độ tuyệt đối, gọi là nhiệt độ tới hạn (Tc). Vào năm 1911, hiện tượng siêu dẫn đã lần đầu tiên được phát hiện trêb thủy ngân (Hg) bởi Heike Kamerlingh Onnes, một nhà vật lý lừng danh người Hà Lan. Khi ông làm lạnh thủy ngân đến nhiệt độ của Helium lỏng, khoảng 4,2 K, điện trở đột ngột biến mất, và mở ra một vấn đề hoàn toàn mới trong vật lý nhiệt độ thấp [1-3].
Tiếp đó, ông nhận thấy trạng thái điện trở sẽ bị khôi phục trong từ trường đủ lớn hoặc ở dòng điện cường độ cao [4]. Chất siêu dẫn không đơn thuần là một chất dẫn điện tốt, chúng hoàn toàn khác về cơ chế dẫn điện thường được biết đến. Đến những năm 1930, hiện tượng siêu dẫn tiếp tục được phát hiện trong nhiều nguyên tố như Ga, Sn, Pb, Nb, Ta, v. Các mốc quan trọng về siêu dẫn này có thể được tóm lược như sau: • Hiệu ứng Meissner, năm 1933: từ trường bị đẩy khỏi chất siêu dẫn trong quá trình chuyển từ trạng thái bình thường sang trạng thái siêu dẫn [5].
• Phương trình London, năm 1935: Phương trình mô tả thành công điện động lực học trong chất siêu dẫn, và giải thích hiệu ứng Meissner [6]. • Lý thuyết Ginzburg-Landau, năm 1950: Mô tả hiện tượng siêu dẫn dựa trên sự chuyển pha bậc hai [7]. • Lý thuyết Bardeen – Cooper - Schrieffer (BCS), năm 1957: Cơ chế vi mô của hiện tượng siêu dẫn [8]. • Hiệu ứng Josephson, năm 1962: Sự xuyên ngầm của các cặp Copper siêu dẫn qua các mặt phân cách mỏng [9].
• Khám phá vật liệu siêu dẫn liên kim loại và hợp kim, năm 1962: chẳng hạn như NbTi, Nb3Sn, NbAl [10]. • Khám phá ra vật liệu siêu dẫn Tc cao, năm 1986 [11]. • Khám phá ra vật liệu siêu dẫn MgB2 (2001) [12]. 3 • Khám phá chất siêu dẫn nền Sắt (2006) [13].
Phân loại chất siêu dẫn trên cơ sở tính chất từ Các chất siêu dẫn có thể được phân loại dựa một số tiêu chí dựa vào các đặc tính vật lý của chúng, vào sự hiểu biết của chúng ta về chúng hoặc vào vật liệu làm chúng. Một trong những phân loại phổ biến nhất là dựa trên tính chất của chúng dưới tác dụng của từ trường ngoài, bao gồm hai loại, siêu dẫn loại I và siêu dẫn loại II. • Chất siêu dẫn loại I: Chất siêu dẫn loại I, tuần theo quy luật của hiệu ứng Meissner hoàn toàn, với từ trường tới hạn, Hc, giá trị xảy ra sự chuyển đổi đột ngột từ trạng thái siêu dẫn sang trạng thái bình thường. Các chất siêu dẫn loại I cho phép thâm nhập ngay cả với trường thấp, nên chúng còn được gọi là “chất siêu dẫn mềm”.
Hiện nay, khoảng ba mươi kim loại nguyên chất là chất siêu dẫn loại I được ghi nhận, và cơ chế siêu dẫn của chúng được mô tả trọn vẹn bởi lý thuyết BCS. Như biểu diễn trong hình 1. Đường cong từ hóa của siêu dẫn loại I (trái) và (phải) siêu dẫn loại II [14] 4 • Chất siêu dẫn loại II: Khác với chất siêu dẫn loại I, chất siêu dẫn loại II (hay chất siêu dẫn cứng) có biểu hiện khác với từ trường, có thể quan sát trong hình 1. Dưới Hc1, chất siêu dẫn thể hiện hiệu ứng Meissner tương tự chất siêu dẫn loại I [2].
Từ Hc1, từ trường bắt đầu thâm nhập dần vào bên trong của chất siêu dẫn. Tuy nhiên, tính siêu dẫn vẫn được duy trì, cho đến khi đạt tới trường tới hạn cao hơn - Hc2. Trong vùng Hc1 < H < Hc2, từ trường có thể xuyên qua các chất siêu dẫn dưới dạng từ thông lượng tử hóa, gọi là xoáy từ, mỗi lượng tử từ thông có độ lớn Φ0= h/2e, với h là hằng số Plank và e là điện tích của electron. Mỗi xoáy có một lõi với bán kính được xác định bởi độ dài kết hợp (ξ).
Siêu dòng quanh lõi xoáy có độ lớn phân rã theo cấp số nhân trên một độ dài được xác định bởi độ thấm sâu (λ) [7].2 cho thấy mật độ số electron ns và cường độ từ trường xung quanh các lõi bình thường trong chất siêu dẫn loại II. Một tỷ lệ quan trọng, κ = λ / ξ, hiện được gọi là tham số Ginzburg – Landau, có thể được sử dụng để phân loại các chất siêu dẫn. Đối với chất siêu dẫn loại I, 0 <κ <1 / √2 (năng lượng bề mặt dương) và κ> 1 / √2 (năng lượng bề mặt âm) đối với chất siêu dẫn loại II [7]. Chất siêu dẫn loại II là hữu ích nhất về mặt công nghệ vì trường tới hạn trên (Hc2) có thể cao, cho phép các nam châm điện trường cao được làm bằng dây siêu dẫn.2 Mật độ số electron ns và cường độ từ trường xung quanh các lõi bình thường trong chất siêu dẫn loại II [7] 5 1.
Động lực học xoáy từ trong chất siêu dẫn ❖ Ghim từ thông Khi có dòng điện dịch chuyển J (thể hiện trong hình 1.3), xoáy từ chịu tác dụng của lực Lorentz, và trên một đơn vị chiều dài, nó được xác định bởi công thức fL = Φ0 J × n, trong đó J là mật độ dòng, n là vectơ đơn vị dọc theo từ thông dòng và Φ0 là lượng tử từ thông [1,2,15]. Tính trung bình trên số xoáy sẽ cho mật độ lực Lorentz, xác định bởi công thức FL = J × B. Lực này có xu hướng di chuyển các đường từ thông theo hướng vuông góc với hướng của dòng điện, tạo ra một điện trường pháp tuyến đối với cả chuyển động và hướng của vecto từ trường. Sự chuyển động của dòng xoáy này, cùng với ảnh hưởng của tương tác xoáy-xoáy là những nguyên nhân chính dẫn đến sự tiêu tán công suất trong chất siêu dẫn loại II.
Để sự tiêu tán theo dòng từ thông không bắt đầu ngay khi các xoáy đi vào vật liệu loại II, thì cần phải có một lực chống lại lực Lorentz để "ghim" các xoáy tại chỗ [2, 15]. Các vị trí ghim xoáy như vậy được tạo ra bởi các phần thiếu trong chất siêu dẫn hoạt động như các vị trí thuận lợi về mặt năng lượng mà tại đó dòng thông lượng có thể cư trú. Các tâm ghim có thể là các khuyết tật điểm như chỗ trống và tạp chất, khuyết tật đường như lệch vị trí hoặc khuyết tật mặt phẳng như ranh giới hạt. Sự hiện diện của các vị trí thuận lợi cho việc ghim tạo ra một lực ghim cho mạng tinh thể đường thông lượng, fp, chống lại lực Lorentz [16].
Tổng lực ghim mà tất cả các tâm ghim sơ cấp trong một đơn vị thể tích có thể tác dụng lên các đường từ thông được gọi là mật độ lực ghim, ký hiệu là Fp. Do đó, có một mật độ dòng điện tới hạn hữu hạn, Jc, là mật độ dòng điện tối đa mà vật liệu siêu dẫn có thể mang theo mà không cần tiêu tán công suất, và nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với các ứng dụng kỹ thuật của chất siêu dẫn [16, 17]. Ở mật độ dòng tới hạn Jc, lực Lorentz tác dụng lên các đường từ thông trong một đơn vị thể tích được cân bằng bởi mật độ lực ghim. Do đó, chúng ta có quan hệ: Fp = -Jc × B [16, 17, 18].3 Trạng thái hỗn hợp của chất siêu dẫn loại II có dòng điện vận chuyển J [15] Từ những nội dung trên trên, một phương thức cải thiện Jc bằng cách tăng khả năng ghim bằng cách thêm mật độ khuyết tật vào chất siêu dẫn.
Một số lý thuyết quan trọng liên quan đến ghim từ thông trong chất siêu dẫn sẽ được trình bày dưới đây. ❖ Lý thuyết ghim tập thể Khái niệm ghim tập thể lần đầu tiên được đề xuất bởi Larkin và Ovchinnikov vào năm 1979 [16]. Trong vùng từ trường thấp (lân cận Hc1), nơi xoáy riêng lẻ có thể bị ghim chặt bởi một khuyết tật, được gọi là chế độ ghim xoáy đơn. Trong cơ chế này, lực Lorentz yếu và khoảng cách giữa các xoáy a0 ≈ 1,07(φ 0/B) 0,5 đủ lớn để làm cho các tương tác xoáy-xoáy đáng kể, do đó các xoáy có thể được ghim lại mà không bị tiêu tán công suất [7, 8].
Do đó, Jc là độc lập với từ trường và có thể quan sát thấy một vùng không phụ từ trường trong Jc (H). Với sự gia tăng của lực ghim từ trường trở nên yếu hơn so với lực Lorentz và lực tương 7 tác, vì vậy mỗi khuyết tật riêng lẻ không thể ghim một đường xoáy, nhưng tập hơn của một số khuyết tật có thể ảnh hưởng đáng kể đến động lực học của dòng xoáy. Điều này giới thiệu ý tưởng về ghim tập thể [7-10]. Khi các lực ghim riêng lẻ tác động lên đường xoáy được tổng hợp lại, các phần đóng góp của các khuyết tật khác nhau sẽ chỉ cộng lại một cách ngẫu nhiên, tức là chỉ những dao động về mật độ và lực của các khuyết tật mới có thể ghim đường thông lượng ở một vị trí xác định.
Giả sử mật độ khuyết tật ni tác dụng với một chốt lực riêng biệt fpin trên đường xoáy, tổng lực đối với một đoạn xoáy có chiều dài L là Fpin ≈ fpin √𝑛𝑖 ξL [4]. Sự tập trung lớn của các trung tâm ghim yếu có thể dẫn đến ghim tập thể trên các vùng. Trong cơ chế ghim tập thể, Jc phụ thuộc vào các trường bằng quan hệ Jc(H) ∝ H-β với β ~ 1 [38, 40]. Số mũ β có thể được sử dụng để đánh giá độ bền ghim của mẫu.
❖ Tâm ghim từ nhân tạo Ngoài những tâm ghim từ tự nhiên, dạng điểm (0D) và tâm ghim từ dạng mặt phẳng (2D), tâm ghim từ nhân tạo dạng 3 chiều (3D) và 1 chiều (1D) có thể được chế tạo [3-6]. Tâm ghim từ 3 chiều: Là loại tâm ghim từ dạng hạt như các hạt nano, kết tủa có kích thước nano… (Hình 1.4 c) có kích thước đủ lớn. Các hạt nano với kích thước khác nhau khi được pha tạp vào mẫu sẽ phân bố chủ yếu tại biên hạt. Tùy thuộc vào tính chất điện, tính chất từ của các loại hạt nano này, Jc của mẫu sẽ tăng với các cơ chế vật lý tương ứng [5,6].
Tâm ghim từ dạng 1 chiều: Là loại tâm ghim từ dạng ống nano hoặc gậy nano [15,16,17,18]. Tâm ghim từ loại này thường áp dụng cho màng siêu dẫn nhiệt độ cao. Các vật liệu hình thành ống nano hoặc gậy nano thường có cấu trúc Perovskite (ABO3), có phản ứng với hỗn hợp bột siêu dẫn và hình thành cấu trúc khi lắng đọng màng siêu dẫn.