CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SIÊU DẪN VÀ HỆ SIÊU DẪN NHIỆT ĐỘ CAO Bi-Sr-Ca-Cu-O 1. Siêu dẫn và các điều kiện xác định 1. Lịch sử phát triển của siêu dẫn Siêu dẫn là một vấn đề của vật lý học. Năm 1908, Kamerlingh-Onnes hóa lỏng heli và sau đó ba năm sau, ông nghiên cứu điện trở của thủy ngân và phát hiện ra hiện tượng siêu dẫn khi quan sát điện trở của thủy ngân đột ngột giảm về không khi nhiệt độ dưới 4,2 K.1: Điện trở phụ thuộc nhiệt độ của thủy ngân [6].
Sau đó nhiều nhà vật lý học tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về tính chất này. Năm 1957, Barden, Cooper và Schriffer đã đưa ra lý thuyết vi mô về siêu dẫn, được gọi là lý thuyết BCS. Lý thuyết này đã giải thích được tất cả các tính chất cơ bản của siêu dẫn ở nhiệt độ thấp [1]. Năm 1980, tính siêu dẫn được quan sát trong nhiều kim loại và hợp kim.
Các hợp chất có sự góp mặt của chất sắt từ (Ni, Fe, Co.) không có tính chất siêu dẫn ở điều kiện thường. Nhưng khi chịu áp suất cao, nó lại xuất hiện tính chất siêu dẫn (ví dụ như sắt có Tc = 2 K).2: Một số kim loại có tính siêu dẫn trên bảng tuần hoàn hóa học. Các ô màu xanh là kim loại có tính siêu dẫn khi không cần điều kiện áp suất. Ô màu đỏ là kim loại có tính siêu dẫn khi có điều kiện áp suất [12].
Chúng ta luôn khao khát có thể tìm ra siêu dẫn ngay tại nhiệt độ cao. Tuy nhiên, từ năm 1980, vật liệu siêu dẫn đạt được nhiệt độ Tc cao nhất là 30 K đối với Nb3Ge. Để đạt được giá trị Tc cao hơn, nhiều hợp kim và tác dụng của áp suất được nghiên cứu. Ngay sau năm 1980, nhiều hệ vật liệu siêu dẫn được phát hiện ra.
Trong đó, hệ siêu dẫn nhiệt độ cao chứa đồng được phát hiện bởi Bednorz và Muller vào năm 1986. Hầu hết các chất này có nhiệt độ chuyển pha siêu dẫn nằm trong vùng nhiệt độ cao hơn nhiệt độ hóa lỏng của Nitơ (77 K), và được gọi chung là siêu dẫn nhiệt độ cao. Lý thuyết BCS không giải thích được tính chất của vật liệu này nên đòi hỏi một lý thuyết mới [1].3: Lịch sử phát hiện chất siêu dẫn [4,8]. Nhìn chung, việc nghiên cứu siêu dẫn là động cơ để phát triển công nghệ thí nghiệm và phát triển lý thuyết, trên cơ sở lý thuyết lượng tử và lý thuyết hệ nhiều hạt.
Vật liệu siêu dẫn nhiệt độ thấp Vật liệu siêu dẫn được coi là vật liệu siêu dẫn nhiệt độ thấp nếu ta có thể dùng lý thuyết BCS để giải thích cơ chế của nó. Đa số vật liệu siêu dẫn đã được phát hiện là vật liệu siêu dẫn thông thường.Vật liệu siêu dẫn nhiệt độ thấp có thể bao gồm siêu dẫn loại I và loại II. Trong đó, Niobi và Vanadi là siêu dẫn loại II, trong khi hầu hết các nguyên tố khác là siêu dẫn loại I. Vào năm 1911, Kamerlingh Onnes tình cờ phát hiện ra tính chất siêu dẫn của của thủy ngân.
Ông đã quan sát được điện trở của chất siêu dẫn giảm đột ngột về không khi hạ nhiệt độ, sau đó ông làm thí nghiệm với thiếc và chì cũng thấy hiện tượng tương tự xảy ra [2]. Một tính chất đặc trưng khác của siêu dẫn liên quan đến việc đẩy từ thông ra khỏi vật liệu siêu dẫn do Meissner và Ochsenfeld phát hiện vào năm 1933. Các lý thuyết được đưa ra để giải thích tính siêu 5 dẫn có thể kể đến như lý thuyết London (1935) và lý thuyết Ginzburg-Landau (1950). Năm 1957, lý thuyết vi mô về siêu dẫn do Bardeen, Copper và Schrieffer đề xuất được công nhận rộng rãi và gọi tắt là lý thuyết BCS [1].
Các tác giả đã cho rằng hiện tương siêu dẫn có liên quan đến sự hút hai electron thông qua tương tác electron- phonon. Một electron tương tác với một ion dương trong mạng để làm biến dạng mạng tinh thể. Electron thứ hai tương tác với ion trong mạng tinh thể đã biến dạng để thỏa mãn điều kiện cực tiểu hóa năng lượng. Tương tác electron hình thành theo cặp.
Electron trong một cặp có spin ngược nhau nên tổng spin của một cặp bằng không. Cặp electron như vậy được gọi là cặp Cooper. Đặc tính quan trọng của cặp Cooper là tương tác này chỉ xảy ra giữa electron với electron. Ví dụ như là nếu quỹ đạo có ⃗ ) và spin (↑) bị lấp đầy thì khi đó quỹ đạo có vector sóng (−k vector sóng (+k ⃗ ) và ⃗ ) là rỗng thì quỹ spin (↓) cũng bị lấp đầy.
Ngược lại, nếu quỹ đạo có vector sóng (+k ⃗ ) cũng là rỗng [2]. đạo có vector sóng (−k Vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao Vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao thường là vật liệu dẫn không thông thường vì cơ chế của siêu dẫn nhiệt độ cao không thể giải thích bằng lý thuyết BCS. Suốt hơn 24 năm kể từ khi phát hiện ra siêu dẫn nhiệt độ cao có chứa đồng, đã có một số lượng khổng lồ các công trình nghiên cứu cả về thực nghiệm lẫn lý thuyết để tìm hiểu bản chất vật lý của loại vật liệu này. Trước khi vật liệu siêu dẫn chứa đồng được tìm ra năm 1986, nhiệt độ chuyển pha lớn nhất thu nhận được là 23.
Tiếp sau đó, vật liệu siêu dẫn có nhiệt độc chuyển pha cao hơn là La2-xBaxCuO4-δ với Tc = 30 K. Năm 1987, nhiệt độ chuyển pha đã tăng đến 90 K đối với vật liệu siêu dẫn dạng gốm Yba2Cu3O4-δ. Các nhà khoa học đã tiến hành những nghiên cứu chuyên sâu hơn và phát hiện ra HgBa2Ca2Cu3O8-δ pha tạp Ti có Tc = 138 K vào năm 1994. Điều này khiến các nhà khoa học hi vọng rằng chế tạo được vật liệu siêu dẫn có nhiệt chuyển pha tại nhiệt độ phòng.
Đến nay đó vẫn là thách thức của ngành vật lý. Điều khó khăn ở đây là để đạt được siêu dẫn nhệt độ cao là phức hợp nhiều yếu tố, bao gồm: cấu trúc tinh thể, tính dị hướng mạnh, sự xuất hiện của hiệu ứng phi đoạn nhiệt cho đến tương 6 quan mạnh giữa electron hay lực tương tác electron-phonon. Trong vật liệu hỗn hợp, rất nhiều pha dẫn được tạo ra (cấu trúc, từ tính, siêu dẫn.), và kết hợp lại ví dụ như sự tồn tại song song của tính chất siêu dẫn và sắt từ. Thành phần quan trọng của siêu dẫn chứa đồng là mặt phẳng (CuO2) [3].
Chính việc có một hay một vài mặt phẳng (CuO2) trong cấu trúc của vật liệu siêu dẫn không những khiến cho Tc của chúng cao hơn bình thường mà còn ảnh hưởng đến các tính chất vật lý khác mà mô hình lý thuyết BCS không giải thích được. Trong siêu dẫn chứa đồng, các điện tử dẫn xuất hiện do hiệu ứng pha tạp trên mặt phẳng (CuO2) và việc tạo ra các khuyết thiếu oxy bên ngoài mặt phẳng dẫn này. Khoảng cách giữa các mặt phẳng (CuO2) giữa các mạng cơ sở lớn hơn rất nhiều khoảng các giữa các mặt phẳng (CuO2) trong cùng mạng cơ sở. Điều này dẫn đến khi T > Tc thì tính dị hướng dẫn điện xảy ra mạnh còn khi T < Tc thì độ dài kết hợp theo mặt phẳng (ab) (ξab) có giá trị khác với độ dài kết hợp theo trục c (ξc).
Những đặc tính quan trọng này của vật liệu siêu dẫn chứa đồng làm cho vật liệu này có tính ứng dụng cao vì có từ trường tới hạn (Hc2) cao. Trước khi thảo luận về các đặc tính và ứng dụng của họ vật liệu này, chúng ta sẽ tìm hiểu tính chất cơ bản của siêu dẫn [1,2]. Điều kiện xác định chất siêu dẫn 1. Trạng thái điện trở không Đối với chất siêu dẫn, khi nhiệt độ ở dưới nhiệt độ chuyển pha (Tc), điện trở suất của chất siêu dẫn giảm đột ngột về không.
Ở trạng thái này, vật liệu siêu dẫn được coi là vật dẫn hoàn hảo. Trên nhiệt độ chuyển pha trên, vật liệu siêu dẫn trở thành vật liệu thường, nó có tính chất như kim loại và tuân theo định luật Ohm [2].4: Đồ thị sự phụ thuộc của điện trở suất vào nhiệt độ của vật liệu siêu dẫn và kim loại thường [9]. Hiệu ứng Meissner Năm 1933, hai nhà vật lý Meissner và Ochsenfied quan sát rằng: Nếu chất siêu dẫn được làm lạnh trong từ trường xuống dưới nhiệt độ chuyển pha Tc, thì các đường ⃗ sẽ bị đẩy ra khỏi chất siêu dẫn. Tức là chất siêu dẫn nằm trong sức của cảm ứng từ 𝐵 ⃗ = 0.
Hiện tượng này được từ trường ngoài Ha nhưng cảm ứng từ bên trong mẫu 𝐵 gọi là hiệu ứng Meissner. Các đường cảm từ trong lòng chất siêu dẫn bằng không nghĩa là chất siêu dẫn thể hiện như một chất nghịch từ lý tưởng. Nếu có một mẫu siêu dẫn dạng hình trụ dài đặt song song với từ trường ngoài Ha, trường khử từ của mẫu bằng không, thì trong hệ SI [1]: 𝐻 = 𝐻𝑎 + 𝑀 = 0 (1.1) Hệ số từ hóa của chất siêu dẫn sẽ là: 𝑀 𝜒= = −1 (1.5: a) Hiệu ứng Meissner và b) hiện tượng treo từ của vật liệu siêu dẫn [9]. So sánh vật liệu siêu dẫn và vật dẫn hoàn hảo: Khi ta giảm nhiệt độ của mẫu kim loại dưới nhiệt độ chuyển pha của nó, mẫu trở thành vật dẫn hoàn hảo.
Sau khi hạ nhiệt độ, ta đặt từ trường ngoài Ha vào, từ ⃗ 𝑑𝐵 ⃗ = 0 vì thông sẽ không được cho phép đi vào trong mẫu và bên trong mẫu 𝐵 = 0. 𝑑𝑡 Trái lại, nếu vật dẫn hoàn hảo đặt từ trường trước khi làm lạnh, từ thông sẽ đi vào bên trong mẫu. Sau đó mẫu được làm lạnh đến nhiệt độ thấp sao cho điện trở của nó biến mất. Sự biến mất điện trở này không gây ảnh hưởng lên độ từ hóa và sự phân bố từ thông vẫn duy trì không đổi.
Khi giảm từ trường về 𝐻𝑎 thì mật độ từ thông bên trong vật dẫn lý tưởng không thể thay đổi do các dòng bề mặt sẽ xuất hiện để duy trì từ thông bên trong nó [2].6: Sự phân bố của từ thông của (a) vật dẫn hoàn hảo và (b) siêu dẫn [12]. Các thông số tới hạn của siêu dẫn 1. Nhiệt độ tới hạn Mỗi chất siêu dẫn đang ở trạng thái thường khi được làm lạnh xuống một nhiệt độ xác định (trên 0 K), chất đó sẽ chuyển từ trạng thái thường sang trạng thái siêu dẫn. Nhiệt độ này được gọi là nhiệt độ chuyển pha (Tc) hay nhiệt độ tới hạn.
Khi nhiệt độ của chất siêu dẫn nhỏ hơn Tc, điện trở của chất đó trở nên rất nhỏ (𝜌 ≈ 10−27 Ω. Các chất siêu dẫn khác nhau thì có Tc khác nhau.