Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương này trình bày những vấn đề chung của nghiên cứu như: sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu và cuối cùng là trình bày kết cấu của luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan tài liệu. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu nhằm tìm ra những khoảng trống trong nghiên cứu, làm cơ sở vững chắc cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận án.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ tôm nuôi vùng ĐBSCL; trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận làm cơ sở đề xuất các hàm ý chính sách.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày kết luận chung và những hàm ý chính sách để hoàn thiện cấu trúc thị trường tôm vùng ĐBSCL. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chương này nhằm hai mục tiêu chính. Một là trình bày cơ sở lý thuyết gồm: Khái niệm về thị trường, Phân loại thị trường, Khái niệm cấu trúc thị trường, Khái niệm về chuỗi cung ứng, Khái niệm về chuỗi giá trị, Lý thuyết các bên liên quan và Mô hình SCP.
Hai là tổng quan có hệ thống những nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu bao gồm các nội dung: Kênh phân phối và thị trường tiêu thụ sản phẩm tôm, Chức năng thị trường của các tác nhân tham gia ngành hàng tôm, Liên kết ngang và liên kết dọc trong ngành hàng tôm, Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân, Những giải pháp nâng cấp, hoàn thiện ngành hàng tôm, Các công trình nghiên cứu SCP có liên quan và Các hướng tiếp cận nghiên cứu chuỗi sản phẩm tôm ở Việt Nam. Nhằm tìm ra những khoảng trống trong nghiên cứu, làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu cấu trúc thị trường tôm nuôi vùng ĐBSCL.1 Khái niệm về thị trường Trong suốt những thập kỷ qua, đã có nhiều cách hiểu khác nhau về thị trường và đã được định nghĩa bởi những chuyên gia kinh tế. Thật sự, kể từ năm 1957, Cochrane cho rằng thị trường là một phạm vi hoặc không gian nào đó, bao gồm (a) các lực lượng của cung và cầu đang hoạt động, (b) để xác định hoặc sửa đổi, giá (c) khi quyền sở hữu một số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được chuyển giao và (d) các thỏa thuận vật chất và thể chế nhất định có thể là bằng chứng (Cochrane, 1957). Đến năm 1970, Bressler và King đưa ra định nghĩa thị trường là một khu vực hoặc bối cảnh trong đó người sản xuất và người tiêu dùng giao tiếp với nhau, nơi các điều kiện cung và cầu hoạt động và quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao (Bressler và King, 1970).
Tuy nhiên, theo Phí Mạnh Hồng (2013) cho rằng: thị trường thường được hiểu là nơi diễn ra sự mua, bán các hàng hóa và dịch vụ, hình dung đơn giản nhất về thị trường giống cái chợ, nơi mà người ta tập họp lại để tiến hành các giao dịch về hàng hóa. Tuy nhiên, đây là quan điểm nhỏ hẹp về thị trường, vì chỉ nhấn mạnh đến tính chất địa lý của thị trường và chỉ thích hợp với những nơi mà các quan hệ thị trường chưa phát triển. Trong các nền kinh tế thị trường phát triển, các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ có thể diễn ra mà không cần gắn với một địa điểm cụ thể. Người ta có thể tiến hành các thỏa thuận về mua bán hàng hóa với nhau qua điện thoại, fax hay 6 thư điện tử.
Các hàng hóa có thể được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác mà không cần lấy một cái địa điểm nào đó làm trung gian. Các thỏa thuận về hàng hóa, sự vận động của tiền tệ có thể độc lập với các dòng vận động của hàng hóa trên thị trường. Như thế, nói đến thị trường, cần chú ý đến nội dung kinh tế mà nó biểu thị chứ không phải hình dung nó như một nơi mà những nội dung này xảy ra Phí Mạnh Hồng (2013). Theo Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2016).
Khái niệm thị trường được định nghĩa theo quan điểm cổ điển và hiện đại. Định nghĩa cổ điển về thị trường: Là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp hoặc gián tiếp. Có nghĩa là đồng nhất thị trường với chợ và những địa điểm mua bán hàng hóa cụ thể (ở các ấp, xã, thị trấn và thành phố). Định nghĩa hiện đại về thị trường: Là quá trình người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết giá cả và số lượng hàng hóa mua bán.
Có nghĩa là thị trường được hình thành qua một quá trình hơn là tại một thời điểm cụ thể. Thị trường là một nhóm người có nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ với số lượng lớn và có khả năng thanh toán.2 Phân loại thị trường Theo Phí Mạnh Hồng (2013), thì có hai dạng cấu trúc thị trường lớn: thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Là thị trường mà ở đó mỗi người bán hay mỗi doanh nghiệp riêng biệt không có khả năng kiểm soát, chi phối giá cả hàng hóa. Tại thị trường này, doanh nghiệp chỉ là người chấp nhận giá.
Mức giá trên thị trường được hình thành như là kết quả tương tác chung của tất cả những người bán và người mua. Mỗi doanh nghiệp cụ thể, bằng hành vi riêng biệt của mình, không có khả năng tác động đến mức giá này, doanh nghiệp trên thực tế không có quyền lực thị trường (Phí Mạnh Hồng, 2013). Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Là dạng thị trường mà ở đó mỗi người bán hay doanh nghiệp riêng biệt ít nhiều có khả năng kiểm soát hay chi phối giá cả hàng hóa. Một doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo không phải là một kẻ chấp nhận giá.
Bằng nhiều cách khác nhau, doanh nghiệp có thể thay đổi được mức giá hàng hóa, nói cách khác, đó là một doanh nghiệp có quyền lực thị trường” (Phí Mạnh Hồng, 2013). Có nhiều dạng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: thị trường độc quyền, thị trường độc quyền nhóm, hay thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền. 7 - Thị trường độc quyền (độc quyền thuần túy): xét từ phía người bán, chỉ có một doanh nghiệp duy nhất cung ứng hàng hóa. Không có đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp này thường có quyền lực thị trường lớn.
Nó thường có thể định giá hàng hóa cao hơn nhiều so với mức giá có tính chất cạnh tranh tương tự (Phí Mạnh Hồng, 2013). - Thị trường độc quyền nhóm: là thị trường mà trên đó chỉ có một nhóm nhỏ những người sản xuất được gọi là thị trường độc quyền nhóm hay độc quyền tập đoàn. Trên thị trường loại này, các doanh nghiệp thường có quyền lực thị trường hay khả năng kiểm soát, chi phối giá, vừa có thể cạnh tranh với nhau để giành thị trường, vừa có khả năng thỏa thuận để cùng khống chế thị trường (Phí Mạnh Hồng, 2013). - Thị trường cạnh tranh có tính độc quyền: số lượng doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại hàng hóa tương đối lớn.
Những doanh nghiệp trên thị trường này có nhiều điểm giống các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, song lại có khả năng chi phối giá cả hàng hóa một cách hạn chế (Phí Mạnh Hồng, 2013).3 Khái niệm cấu trúc thị trường Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006), “Cấu trúc thị trường là khái niệm để chỉ cách thức tổ chức của thị trường. Cấu trúc thị trường cũng được khái niệm là những đặc điểm của tổ chức thị trường dường như ảnh hưởng chiến lược đến bản chất của cạnh tranh và giá cả trong thị trường (Olukosi và ctv, 2007). Một khái niệm khác, cấu trúc thị trường là một hệ thống phân loại cho các đặc điểm chính của thị trường, bao gồm số lượng công ty, sự giống nhau của các sản phẩm họ bán và dễ dàng ra vào thị trường (Tucker, 2010). Từ những khái niệm trên, tác giả khái niệm cấu trúc thị trường sản phẩm tôm nuôi như sau: Cấu trúc thị trường sản phẩm tôm nuôi đề cập đến những đặc điểm tổ chức của thị trường có khả năng ảnh hưởng đến sự vận hành và kết quả hoạt động của thị trường như mức độ tập trung thị trường, sự khác biệt của sản phẩm và những rào cản gia nhập thị trường (Lê Bảo Toàn, Bùi Văn Trịnh và Hoàng Thị Hồng Lộc, 2022).
Mặc khác, theo Lê Văn Thu (2015), sự hình thành và phát triển của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi về cơ bản cũng giống như sự hình thành và phát triển của các chuỗi cung sản phẩm của nhiều ngành nông nghiệp khác. Chính vì vậy, theo quan điểm của 8 nghiên cứu này cấu trúc thị trường sản phẩm tôm nuôi cũng giống như cấu trúc thị trường sản phẩm của nhiều ngành nông nghiệp khác.4 Khái niệm về chuỗi cung ứng Theo Mentzer (2001) chuỗi cung ứng được định nghĩa là: một bộ ba hoặc nhiều thực thể (tổ chức hoặc cá nhân) trực tiếp tham gia vào dòng chảy thượng nguồn và hạ nguồn các sản phẩm, dịch vụ, tài chính và/ hoặc thông tin từ nguồn cho khách hàng. Mentzer và ctv (2001) xác định ba mức độ phức tạp của chuỗi cung ứng: chuỗi cung ứng trực tiếp, chuỗi cung ứng mở rộng và chuỗi cung ứng cuối cùng. Chuỗi cung ứng trực tiếp bao gồm một công ty, một nhà cung cấp và một khách hàng tham gia vào các dòng sản phẩm, dịch vụ, tài chính và/ hoặc thông tin trong thượng nguồn và/ hoặc hạ nguồn.
Chuỗi cung ứng mở rộng bao gồm các nhà cung cấp và khách hàng của tổ chức đầu mối, tất cả đều tham gia vào các luồng sản phẩm, dịch vụ, tài chính và/ hoặc thông tin từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ. Chuỗi cung ứng cuối cùng, nó bao gồm tất cả những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến dòng sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối cùng. Theo Hunka và ctv (2011) thì không có một định nghĩa duy nhất về chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng là toàn bộ mạng lưới các cơ sở có liên quan đến các chức năng mua sắm nguyên liệu, chuyển đổi nguyên vật liệu sang sản phẩm trung gian và thành phẩm và phân phối thành phẩm hoặc dịch vụ.