Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá và có thể tái tạo được của nước ta, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng. Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường.
Rừng là hơi thở của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài người. Rừng cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nguồn nước, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm. Mất rừng gây ra hậu quả nghiêm trọng, những diện tích đất trống đồi núi trọc tăng là nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng sinh học. Mặc dù diện tích rừng trồng cũng tăng trong những năm gần đây, song rừng trồng thường có cấu trúc không ổn định, vai trò bảo vệ môi trường, phòng hộ kém.
Hầu hết, rừng tự nhiên của Việt Nam đều bị tác động, sự tác động theo hai hướng chính đó, là chặt chọn (chặt cây đáp ứng yêu cầu sử dụng). Đây là lối khai thác hoàn toàn tự do, phổ biến ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (lấy gỗ về làm nhà, làm củi…). Cách thứ hai là khai thác trắng như: Phá rừng làm nương rẫy, khai thác trồng cây công nghiệp, phá rừng tự nhiên trồng rừng công nghiệp…). Trong hai cách này, cách thứ nhất rừng vẫn còn tính chất đất rừng, kết cấu rừng bị phá vỡ, rừng nghèo kiệt về trữ lượng và chất lượng, nhưng vẫn còn khả n 2 năng phục hồi.
Với cách khai thác thứ hai, rừng hoàn toàn bị mất trắng, khó có khả năng phục hồi. Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Xã La Bằng nằm ở phía tây của huyện và thuộc vùng núi Tam Đảo, có diện tích 17,95 km², dân số năm 1999 là 3.562 người, mật độ dân số đạt 198 người/km².La Bằng cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoáng 35 km và cách huyện lị Đại Từ khoảng 4 km. Xã có địa hình kéo dài theo chiều đông bắc - tây nam và tiếp giáp với xã Phú Xuyên ở phía bắc, xã Bản Ngoại ở phía đông bắc, xã Hoàng Nông ở phía đông và nam.
Qua dãy Tam Đảo, La Bằng giáp với xã Thiện Kế của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới. Theo Phạm Hồng Ban (2000) [1] ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26%.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy. Hiện nay trên địa bàn, diện tích rừng tự nhiên đã bị suy giảm, trước hết là do công trình quy hoạch xây dựng khu du lịch, sau đó là do người dân đốt rừng để sản xuất các loại cây trồng khác làm cho trữ lượng rừng đã bị giảm mạnh. Tuy số lượng rừng trồng đã được tăng lên và cây trồng chủ yếu là cây Keo nhưng trữ lượng rừng vẫn không tăng đáng kể. Chính vì vậy cần có những giải pháp thích hợp nhằm phục hồi lại rừng, để rừng có thể phát huy tối đa những vai trò của nó, đảm bảo được lợi ích về mặt sinh thái môi trường và kinh tế cho người dân sống quanh khu vực.
Để làm được điều này thì chúng ta phải hiểu biết đầy đủ những quy luật phát triển của hệ sinh thái rừng. Do đó cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng để quản lý, kinh doanh rừng được lâu bền hơn. n 3 Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện khóa luận: “Đánh giá đặc điểm cấu trúc của rừng phục hồi IIB tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu về diễn thế và trữ lượng. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng, tăng sinh khối, tăng trữ lượng rừng trồng để nâng cao đời sống người dân sống trong khu vực, và tăng vai trò sinh thái của rừng.
Điều kiện thực hiện khóa luận 1. Điều kiện bản thân - Đã hoàn thành được chương trình học lý thuyết trên lớp và đủ điều kiện làm chuyên đề tốt nghiệp. - Đã có kỹ năng điều tra rừng thông qua các học phần thực tập nghề nghiệp. Mục đích nghiên cứu Đánh giá cấu trúc trạng thái rừng phục hồi tự nhiên và đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy nhanh quá trình diễn thế đi lên, phục hồi rừng tự nhiên ở xa La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 1.
Mục tiêu nghiên cứu + Xác định được các quy luật kết cấu cơ bản, đặc điểm cấu trúc của rừng phục hồi tự nhiên tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. + Đề xuất được một số giải pháp nhằm phục hồi rừng, động thích hợp, nhằm từng bước đưa rừng về trạng thái có cấu trúc hợp lí, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, da dạng sinh học và phát triển sản xuất lâm nghiệm ở xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 1.1 Về thực tiễn Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi tự nhiên. Trên cơ sở các quy luật cấu trúc và tái sinh tự nhiên đã phát hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước đưa rừng về trạng thái có cấu trúc hợp lí, ổn định hơn.2 Về lý luận Trên cơ sở quy luật các cấu trúc đề xuất một số giải pháp nhằm phục hổi rừng, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài nguyên, đa dạng sinh học tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học và vận dụng vào thực tế sản xuất - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể - Học tập, hiểu biết kinh nghiệm, kỹ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu 1. Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng phục hồi tự nhiên của rừng và có cơ sỏ đề ra biện pháp lâm sinh như khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng để có thể tận dụng được những khu rùng sinh trưởng phát triển tự nhiên mang lại hiệu quả cho cuộc sống người dân cũng như việc cải tạo môi trường, tăng mức độ đa dạng sinh học. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện của cơ sở, địa phƣơng nơi triển khai thực hiện khóa luận 2.
Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu Xã La Bằng nằm ở phía tây của huyện và thuộc vùng núi Tam Đảo, nằm trong tọa độ 21037’34”B đến 105032’10”Đ .La Bằng cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoáng 35 km và cách huyện lị Đại Từ khoảng 4 km. Xã có địa hình kéo dài theo chiều đông bắc - tây nam và tiếp giáp với xã Phú Xuyên ở phía bắc, xã Bản Ngoại ở phía đông bắc, xã Hoàng Nông ở phía đông và nam. Qua dãy Tam Đảo, La Bằng giáp với xã Thiện Kế của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Với tổng diện tích tự 17,95 km², dân số 3.562 người, mật độ dân số đạt 198 người/km².
các dân tộc anh em chủ yếu là : Tày, Kinh , Nùng, Dao, Sán Dìu Xã La Bằng có đường liên tỉnh Thái Nguyên – Tuyên Quang chạy qua đang được nâng cấp và mở rộng, là tuyến đường liên tỉnh kết hợp liên huyện nên đã tạo cho xã nhiều điều kiện giao lưu văn hóa thương mại với nhiều vùng kinh tế khác, kinh tế xã hội ở đây đang phát triển từng ngày. Theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2014, xã La Bằng có diện tích 21,42 km² khu vực xã. Địa hình Khu vực nghiên cứu nằm tại phía Tây của huyện và được biết đến vì là nơi có khu du lịch rừng quốc gia Tam Đảo là nơi có địa hình dốc Về đồi núi: Do vị trí địa lý của huyện Đại Từ được bao bọc xung quanh bởi dãy núi: - Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam đảo ngăn cách giữa Huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m. - Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa.
- Phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300 m. - Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam n 6 Khí hậu và thủy văn Theo sự phân vùng của nhà khí tượng Thái Nguyên, khí hậu của xã La Bằng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều. Hàng năm khí hậu biến đổi rõ rệt, mỗi mùa có đặc thù riêng. Mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình 15,50C, thấp nhất từ 9 - 100C, cao nhất 20 - 210C. Thường xuyên có các đợt gió mùa Đông Bắc và sương muối kèm theo khí hậu khô hanh. Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình là 280C, thấp nhất là 260C, cao nhất là 300C; đột xuất có ngày lên tới 380C, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiều khi có đợt mưa lớn và tập trung.
Lượng mưa trong năm phân bố không đều, mưa lớn vào khoảng tháng 6 và tháng 7, chiếm 60 - 70% lượng mưa cả năm.