Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Lưu Quốc Toản có tiêu đề: "Nghiên cứu can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng an toàn và hiệu quả biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi tại hai xã của tỉnh Hà Nam, năm 2014-2016". Công trình được thực hiện tại Trường Đại học Y tế công cộng dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Đức Phúc và TS. Nguyễn Việt Hùng, bảo vệ năm 2021. Nghiên cứu tiếp nhận tài trợ kinh phí từ Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế Canada (IDRC) trong khuôn khổ Dự án Sáng kiến xây dựng và phát triển sức khỏe sinh thái ở Đông Nam Á (FBLI).

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực trạng phát triển công nghệ khí sinh học (biogas) quy mô hộ gia đình tại Việt Nam. Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas phân hủy yếm khí được triển khai rộng rãi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cung cấp chất đốt sinh hoạt (cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi với 8,7% hộ sở hữu công trình biogas). Tuy nhiên, chất lượng vệ sinh nước thải và phụ phẩm sau xử lý của nhiều nông hộ chưa đạt yêu cầu quy chuẩn, tồn lưu nhiều tác nhân vi sinh vật gây bệnh như Escherichia coli, Cryptosporidium parvum, Salmonella. Theo các chuyên gia kỹ thuật, hiệu quả vận hành của công trình phụ thuộc 30% vào chất lượng xây dựng và 70% vào quá trình vận hành, bảo trì của người sử dụng. Dữ liệu khảo sát người dùng biogas của Dự án Khí sinh học Hà Lan giai đoạn 2011–2013 cho thấy trên 50% số hộ gia đình chưa tiếp cận thông tin hướng dẫn vận hành; tỷ lệ hộ ước tính đúng khối lượng phân và nước khi nạp chỉ đạt 19,0%–56,4%. Tại tỉnh Hà Nam, ngành chăn nuôi phát triển mạnh nhưng tỷ lệ người dùng tham gia tập huấn kỹ thuật biogas ở mức rất thấp (15%), trong khi các nghiên cứu trước đó đã ghi nhận mức độ ô nhiễm vi sinh vật cao trong nguồn nước thải chăn nuôi tại địa phương. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu về thực trạng kiến thức, thực hành vận hành biogas và thử nghiệm giải pháp can thiệp giáo dục truyền thông tại cộng đồng.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung:

  1. Mô tả kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas hộ gia đình trong xử lý chất thải chăn nuôi tại hai xã của tỉnh Hà Nam năm 2015.
  2. Xây dựng và triển khai can thiệp có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas hộ gia đình trong xử lý chất thải chăn nuôi tại hai xã của tỉnh Hà Nam.
  3. Đánh giá kết quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas hộ gia đình trong xử lý chất thải chăn nuôi tại hai xã của tỉnh Hà Nam năm 2016.

Câu hỏi nghiên cứu được văn bản xác định:

  1. Các hạn chế về kiến thức, thực hành sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas hộ gia đình của người dân ở huyện Duy Tiên và Kim Bảng như thế nào?
  2. Có giải pháp nào để khắc phục các hạn chế trong kiến thức, thực hành sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas hộ gia đình tại hai huyện Duy Tiên và Kim Bảng không?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 399 người dân đại diện cho 399 hộ gia đình có công trình biogas; 399 công trình biogas hộ gia đình; chất lượng nước thải thu thập tại 72 công trình biogas hộ gia đình; nhóm cộng tác viên truyền thông giáo dục sức khỏe (24 giáo dục viên).
  • Phạm vi không gian: Xã Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên) và xã Hoàng Tây (huyện Kim Bảng), tỉnh Hà Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập dữ liệu và triển khai can thiệp từ năm 2014 đến năm 2016 (khảo sát ban đầu năm 2015, đánh giá sau can thiệp năm 2016).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 nội dung chính:

Lịch sử phát triển và nguyên lý công nghệ khí sinh học: Hiện tượng sinh khí dễ cháy từ phân hủy chất hữu cơ kỵ khí được Bechamp xác định chứa khí metan vào năm 1868, sau đó Omelianski (những năm 1890) làm rõ cơ chế lên men cellulose kỵ khí của vi khuẩn. Công nghệ biogas phát triển thành các nhà máy công nghiệp năng lượng tái tạo tại châu Âu (Đức, Anh, Đan Mạch, Pháp, Italia) và quy mô nông hộ tại các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Nepal, Bangladesh, Indonesia, Ethiopia). Tại Việt Nam, công trình nắp cố định bằng gạch xi măng (mẫu KT1, KT2 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành), composite và bạt chống thấm HDPE là ba nhóm phổ biến.

Các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý: Hadi Eslami và cộng sự (2018) chỉ ra nồng độ chất khô tối đa để duy trì hiệu suất phân giải kỵ khí là 18,52 g/L/ngày. Daniella Gallegos ghi nhận giảm kích thước hạt nguyên liệu từ 2 cm xuống 0,2 cm làm tăng hiệu suất xử lý thêm 26%. Hans-Joachim Naegele xác định kích thước hạt nhỏ hơn 0,063 mm đạt hiệu suất cao hơn 13,1% so với hạt lớn hơn 4 mm. Tỷ lệ Các-bon/Ni-tơ (C/N) tối ưu trong bể phân giải được xác định ở mức 1/30. Nhiệt độ lý tưởng là 35°C và dải pH thích hợp nằm trong khoảng 6,8–7,5. Thời gian lưu đối với chất thải động vật dao động từ 30 đến 55 ngày tùy theo vùng nhiệt độ môi trường.

Kiến thức, thực hành và chất lượng vệ sinh nước thải biogas: Alam Hossain Mondal và cộng sự (2010), A. Islam (2014) tại Bangladesh cho biết người dùng thiếu kiến thức vận hành cơ bản (59% không nhận được tài liệu hướng dẫn), dẫn đến tỷ lệ bỏ hỏng công trình cao. Khảo sát tại Lào (2008) ghi nhận 30% người dùng chưa từng qua tập huấn; tại Nepal (2010) là 70,4%; tại Kenya (2014), 60% hộ không lắp đồng hồ đo gas hoặc bẫy nước chữ U. Nghiên cứu của Lansing và cộng sự (2008) cho thấy biogas có khả năng giảm COD từ 2968 mg/L xuống 472 mg/L. Nguyễn Thị Hồng và cộng sự (2012) ghi nhận mức giảm 50% Fecal coliform. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu thực địa chỉ ra nước thải biogas vẫn chứa mật độ vi sinh vật gây bệnh cao, nồng độ E. coli và Salmonella chỉ giảm 1–2 log10 do người dân nạp quá tải chất thải và lạm dụng nước dọn chuồng.

Can thiệp dựa vào cộng đồng và phương pháp tiếp cận có sự tham gia: Luận án phân tích mô hình PRECEDE-PROCEED kết hợp các kỹ thuật Đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal - PRA) của Robert Chambers. Các nghiên cứu quốc tế được điểm lại gồm: Francoise Gourmelon và cộng sự (2013) tại Pháp ứng dụng mô hình hóa đồng hành/đóng vai trong quản lý đất đai; chương trình PSNP tại Ethiopia sử dụng công cụ lịch thời vụ và sơ đồ cộng đồng; Fuldauer và cộng sự (2019) tại đảo Curacao ứng dụng lập kế hoạch có sự tham gia trong quản lý rác thải; Patranit Srijuntrapun (2018) tại Thái Lan áp dụng nghiên cứu hành động có sự tham gia trong phân loại thức ăn thừa.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật xây dựng bể, hiệu suất sinh khí đốt hoặc khảo sát tỷ lệ tiếp cận tập huấn mang tính hành chính đơn thuần. Chưa có nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng nào vận dụng mô hình PRECEDE-PROCEED kết hợp phương pháp PRA để giải quyết đồng thời các thiếu hụt về kiến thức vận hành, thực hành an toàn và đánh giá hiệu quả vệ sinh nước thải biogas thông qua thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm có nhóm đối chứng tại vùng đồng bằng sông Hồng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng khung lý thuyết PRECEDE-PROCEED kết hợp phương pháp tiếp cận Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và quan điểm Sức khỏe sinh thái (Ecohealth). Khái niệm "Sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas hộ gia đình" được giới hạn trong hai cấu phần: (1) An toàn và hiệu quả vệ sinh môi trường (đáp ứng khả năng phân hủy chất hữu cơ COD, BOD5-20 và giảm mật độ vi sinh vật chỉ điểm); (2) An toàn cháy nổ và phòng chống ngạt khí trong quá trình vận hành hàng ngày và bảo dưỡng định kỳ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp cộng đồng, so sánh trước - sau có nhóm đối chứng (quasi-experimental pre-post design with control group).
  • Địa bàn và phân nhóm mẫu: Triển khai tại xã Hoàng Tây (huyện Kim Bảng) và xã Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên), tỉnh Hà Nam. Mẫu định lượng gồm 399 người dân/hộ gia đình chia làm hai nhóm:
    • Nhóm can thiệp: 144 người dân (thuộc 163 hộ tiếp nhận truyền thông, có 24 người tham gia nhóm nòng cốt là giáo dục viên).
    • Nhóm đối chứng: 255 người dân tại các thôn lân cận có điều kiện tương đồng.
  • Mẫu xét nghiệm môi trường: 72 công trình biogas hộ gia đình được chọn để lấy 144 mẫu chất thải đầu vào và 144 mẫu nước thải đầu ra tại bể điều áp trước và sau can thiệp. Các chỉ tiêu phân tích gồm E. coli, Coliform (phương pháp MPN), nhu cầu oxy hóa học (COD) và nhu cầu oxy sinh học (BOD5-20).
  • Công cụ và can thiệp thực tế: Áp dụng các công cụ PRA (thảo luận nhóm tập trung, vẽ sơ đồ cộng đồng, lập lịch thời gian biểu hàng ngày) để thu thập thông tin và xây dựng tài liệu truyền thông có sự tham gia của người dân; tổ chức tập huấn kỹ năng cho 24 giáo dục viên (GDV) đồng đẳng để thực hiện truyền thông trực tiếp, hướng dẫn thực hành nạp phân, kiểm tra đồng hồ đo gas và an toàn hầm ủ.
  • Phân tích số liệu: Nhập liệu bằng EpiData, xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Stata/SPSS; sử dụng các kiểm định so sánh tỷ lệ, kiểm định t-test cho giá trị trung bình, mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để đánh giá điểm chênh lệch kiến thức và thực hành giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng sau khi kiểm soát các biến số gây nhiễu; ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05, khoảng tin cậy 95% (95%CI).
  • Tiêu chuẩn tham chiếu: Tiêu chuẩn ngành TCN 492:2002 quy định nước thải biogas nhỏ phải giảm tối thiểu 50% hàm lượng COD và BOD5-20 so với đầu vào; Coliform không vượt quá 10^6 MPN/100 ml; không mùi hôi thối, không có bọ gậy; tham chiếu quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT và hướng dẫn an toàn phòng chống cháy nổ, ngạt khí TCN 497:2002.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề cương được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt, bảo đảm sự tự nguyện và bảo mật danh tính người tham gia.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Chương này trình bày bối cảnh phát triển chăn nuôi gia súc quy mô hộ gia đình tại Việt Nam gắn liền với bài toán xử lý 85 triệu tấn phân và 37 triệu tấn nước thải động vật mỗi năm. Công trình biogas được xem là giải pháp quản lý chất thải chủ đạo, song sự thiếu hụt kiến thức vận hành dẫn đến tình trạng nước thải xả ra môi trường vẫn mang mầm bệnh. Tại Hà Nam, dù chăn nuôi là ngành kinh tế trọng điểm với số lượng hầm biogas lớn, tỷ lệ người dân được đào tạo sử dụng rất thấp (15%). Tác giả xác lập tính cấp thiết, 3 mục tiêu cụ thể và 2 câu hỏi nghiên cứu nhằm kiểm định hiệu quả của can thiệp truyền thông có sự tham gia của cộng đồng.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Nội dung chương tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học và thực tiễn gồm 4 phần:

  1. Khái niệm và lịch sử phát triển công nghệ khí sinh học: Trình bày cấu tạo công trình biogas nắp cố định hình vòm cầu (mẫu KT1, KT2), hầm túi ủ, hầm composite và bể VACVINA cải tiến. Phân tích nguyên lý phân hủy kỵ khí sản sinh khí CH4 và CO2; vai trò của các thông số kỹ thuật (nhiệt độ 35°C, pH 6,8–7,5, tỷ lệ C/N 1/30, thời gian lưu 30–55 ngày, mật độ chất khô nạp khuyến nghị 25 kg/m3/ngày, tỷ lệ pha loãng phân:nước từ 1:1 đến 1:3).
  2. Kiến thức và thực hành của người dân: Điểm luận thực trạng hạn chế tại Việt Nam và các nước châu Á, châu Phi; xác định thói quen dọn chuồng xả thừa nước, không ước lượng khối lượng nạp và bỏ quên kiểm tra rò rỉ khí gas là nguyên nhân làm suy giảm hiệu quả xử lý chất thải.
  3. Đặc điểm vệ sinh nước thải biogas: Dẫn chứng các số liệu ô nhiễm vi sinh vật (E. coli, Coliform) và hóa học (COD, BOD5-20) trong nước thải sau xử lý khi công trình vận hành sai kỹ thuật.
  4. Can thiệp dựa vào cộng đồng và Dự án FBLI: Làm rõ mô hình PRECEDE-PROCEED, phương pháp PRA (thảo luận nhóm, sơ đồ cộng đồng, đóng vai) và cách tiếp cận Sức khỏe sinh thái áp dụng trong cải thiện vệ sinh nông thôn.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận:

  • Thiết kế bán thực nghiệm so sánh trước - sau có nhóm đối chứng tại 2 xã Hoàng Tây và Chuyên Ngoại.
  • Tiêu chí lựa chọn và phân bố cỡ mẫu: 399 hộ gia đình (144 can thiệp, 255 đối chứng) tham gia phỏng vấn bộ câu hỏi cấu trúc về kiến thức, thực hành; 72 công trình biogas được lấy mẫu nước thải kép (144 mẫu phân nạp đầu vào và 144 mẫu nước thải bể điều áp).
  • Quy trình can thiệp: Tuyển chọn 24 giáo dục viên (GDV) từ nhóm hộ can thiệp, tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng truyền thông, phát triển tài liệu truyền thông có sự tham gia của cộng đồng, triển khai tư vấn trực tiếp tại hộ và họp nhóm nhỏ tại thôn.
  • Xây dựng hệ thống biến số, thang điểm đo lường kiến thức (gồm nguyên lý, thông số vận hành, nhận biết hiện tượng bất thường, an toàn cháy nổ, ngạt khí) và thang điểm thực hành (chuẩn bị phân, ước lượng tỷ lệ nước, thời điểm nạp, sử dụng bảo hộ lao động, theo dõi áp suất gas).
  • Quy trình xét nghiệm vi sinh và hóa học theo phương pháp chuẩn; phương pháp phân tích số liệu và các biện pháp bảo đảm đạo đức nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng và định tính thu được qua các giai đoạn:

Nhóm chỉ số đánh giá Thời điểm / Phân nhóm Kết quả thực tế
Kiến thức đúng về nạp phân và thông số Trước can thiệp (Toàn bộ mẫu) Dao động từ 1,0% đến 33,1%
Thực hành đúng về hoạt động nạp phân Trước can thiệp (Toàn bộ mẫu) Dao động từ 6,8% đến 36,3%
Mẫu nước thải đạt chuẩn Coliform (TCN) Trước can thiệp (n = 72 công trình) 5,6% đạt chuẩn (≤ 10^6 MPN/100 ml)
Mẫu nước thải giảm ≥ 50% COD (TCN) Trước can thiệp (n = 72 công trình) 47,2% đạt chuẩn
Mẫu nước thải giảm ≥ 50% BOD5-20 (TCN) Trước can thiệp (n = 72 công trình) 43,1% đạt chuẩn
Điểm kiến thức trung bình sau can thiệp Nhóm can thiệp (Sau vs Trước) Tăng 7,4 điểm
Điểm thực hành trung bình sau can thiệp Nhóm can thiệp (Sau vs Trước) Tăng 2,3 điểm
Biến thiên điểm nhóm đối chứng Nhóm đối chứng (Sau vs Trước) Thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Điểm chênh kiến thức (DID) Can thiệp so với Đối chứng 5,0 điểm (95%CI: 3,86 – 6,05)
Điểm chênh thực hành (DID) Can thiệp so với Đối chứng 2,0 điểm (95%CI: 1,43 – 2,51)

Về mặt can thiệp truyền thông, chương ghi nhận kết quả đào tạo 24 giáo dục viên hoàn thành khóa tập huấn và phân phát bộ tài liệu hướng dẫn đến 163 hộ gia đình nhóm can thiệp. Kết quả xét nghiệm nước thải sau can thiệp ghi nhận sự cải thiện có ý nghĩa về tỷ lệ mẫu đạt tiêu chuẩn ngành đối với chỉ tiêu Coliform, COD và BOD5-20 tại nhóm công trình được can thiệp so với nhóm đối chứng.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả phân tích các phát hiện chính trong tương quan với tài liệu chuyên ngành:

  • Luận giải nguyên nhân khiến kiến thức và thực hành trước can thiệp của người dân ở mức thấp là do hệ thống khuyến nông địa phương chủ yếu hỗ trợ kỹ thuật xây lắp ban đầu mà thiếu đào tạo vận hành liên tục; tập quán dọn chuồng sử dụng vòi xịt nước áp lực lớn đẩy nhanh phân chưa phân hủy qua bể phân giải.
  • Đánh giá vai trò của cách tiếp cận PRA trong mô hình PRECEDE-PROCEED: Việc huy động người dân tham gia xây dựng tài liệu truyền thông và đào tạo mạng lưới GDV đồng đẳng giúp vượt qua rào cản tâm lý e ngại, chuyển giao kiến thức kỹ thuật thành hành vi thực hành cụ thể.
  • Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính chứng minh hiệu quả can thiệp độc lập với các yếu tố nhân khẩu học và quy mô chuồng nuôi. Bàn luận về tính khả thi của việc đáp ứng tiêu chuẩn ngành TCN 492:2002 và khoảng cách lớn so với quy chuẩn quốc gia QCVN 62-MT:2016/BTNMT trong điều kiện chăn nuôi nông hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

Về mặt lý luận:

  • Vận dụng mô hình PRECEDE-PROCEED kết hợp các công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) vào can thiệp hành vi sức khỏe môi trường tại nông thôn Việt Nam.
  • Thiết lập và chuẩn hóa bộ chỉ số đo lường kiến thức và thực hành về sử dụng an toàn và hiệu quả công trình biogas quy mô hộ gia đình, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu y tế công cộng can thiệp hành vi.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp số liệu dịch tễ học và môi trường toàn diện về thực trạng sử dụng biogas tại hai huyện Duy Tiên và Kim Bảng tỉnh Hà Nam, chỉ ra tỷ lệ nước thải đạt chuẩn vi sinh trước can thiệp chỉ ở mức 5,6%.
  • Thử nghiệm mô hình can thiệp truyền thông thông qua mạng lưới 24 giáo dục viên đồng đẳng, chứng minh hiệu quả làm tăng điểm kiến thức (chênh lệch 5,0 điểm, 95%CI: 3,86–6,05) và điểm thực hành (chênh lệch 2,0 điểm, 95%CI: 1,43–2,51) có ý nghĩa thống kê giữa nhóm can thiệp và đối chứng.
  • Minh chứng rằng việc thay đổi hành vi vận hành hàng ngày (pha loãng phân đúng tỷ lệ, nạp phân sau khi xả gas, kiểm tra van xả áp) trực tiếp cải thiện các chỉ số vệ sinh nước thải (Coliform, COD, BOD5-20).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Duy trì hoạt động truyền thông của nhóm giáo dục viên tại các thôn đã can thiệp thuộc xã Hoàng Tây và Chuyên Ngoại.
  • Mở rộng mô hình can thiệp bằng giáo dục viên đồng đẳng sang các thôn đối chứng và các địa bàn chăn nuôi khác của tỉnh Hà Nam.
  • Lồng ghép tài liệu truyền thông sử dụng an toàn và hiệu quả biogas vào các chương trình xây dựng nông thôn mới và quản lý chăn nuôi cấp huyện, tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thời gian theo dõi sau can thiệp diễn ra trong năm 2016, chưa đo lường được tính duy trì bền vững của hành vi vận hành biogas ở các mốc thời gian dài hơn (sau 3–5 năm) khi không còn sự hỗ trợ của dự án.
  • Nghiên cứu thực hiện tại 2 xã đại diện cho vùng đồng bằng sông Hồng có quy mô chăn nuôi nông hộ vừa và nhỏ; đặc điểm tập quán và hạ tầng này có thể khác biệt so với các vùng chăn nuôi miền núi hoặc vùng ngập nước đồng bằng sông Cửu Long.
  • Số lượng công trình được xét nghiệm nước thải (72 công trình) bị giới hạn do chi phí và điều kiện phân tích mẫu vi sinh, hóa học trong phòng thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Thực hiện các nghiên cứu đánh giá theo dõi dọc nhằm kiểm tra tính duy trì kiến thức, thực hành của người dân sau khi kết thúc can thiệp.
  • Nghiên cứu tích hợp các giải pháp kỹ thuật phụ trợ chi phí thấp (như bể lắng lọc sinh học sau bể điều áp, bãi lọc ngầm trồng cây) kết hợp với can thiệp hành vi để đưa chất lượng nước thải đạt quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT.

Giá trị tham khảo

Nội dung và phương pháp luận của luận án cung cấp giá trị tham khảo cho các đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Y tế công cộng và Sức khỏe môi trường: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng; phương pháp kết hợp công cụ định lượng (bộ câu hỏi, xét nghiệm hóa lý vi sinh) với công cụ có sự tham gia (PRA); cách xử lý số liệu bằng mô hình hồi quy tuyến tính đo lường điểm chênh (difference-in-differences).
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo y học dự phòng: Sử dụng làm tình huống giảng dạy thực tế về ứng dụng mô hình PRECEDE-PROCEED trong quản lý chất thải nông thôn và phòng chống các nguy cơ sức khỏe môi trường.
  • Cán bộ quản lý môi trường, khuyến nông và hoạch định chính sách: Tham khảo tài liệu truyền thông có sự tham gia và mô hình giáo dục viên đồng đẳng để thiết kế các can thiệp quản lý chất thải chăn nuôi bền vững ở cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất lượng vệ sinh nước thải biogas trước can thiệp tại hai xã nghiên cứu đạt mức độ nào?
Xét nghiệm tại 72 công trình biogas hộ gia đình trước can thiệp cho thấy chất lượng vệ sinh nước thải ở mức thấp: chỉ 5,6% số mẫu đạt chỉ tiêu vi sinh vật Coliform (≤ 10^6 MPN/100 ml); 47,2% số mẫu đạt chỉ tiêu giảm nồng độ COD ≥ 50%; và 43,1% số mẫu đạt chỉ tiêu giảm nồng độ BOD5-20 ≥ 50% theo Tiêu chuẩn ngành TCN 492:2002.

2. Quy mô mẫu và thiết kế nghiên cứu can thiệp được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng thiết kế can thiệp dựa vào cộng đồng, so sánh trước - sau có nhóm đối chứng. Tổng cỡ mẫu khảo sát định lượng gồm 399 người dân đại diện cho 399 hộ gia đình (144 người nhóm can thiệp và 255 người nhóm đối chứng). Trong nhóm can thiệp, 163 hộ gia đình được nhận tài liệu truyền thông, từ đó lựa chọn và đào tạo 24 người dân làm giáo dục viên đồng đẳng nòng cốt. Đánh giá chất lượng nước thải thực hiện trên 72 công trình biogas (144 mẫu phân nạp đầu vào và 144 mẫu nước thải bể điều áp).

3. Mức độ thay đổi điểm kiến thức và thực hành của người dân sau can thiệp đạt bao nhiêu?
Trong nhóm can thiệp, trung bình tổng điểm kiến thức sau can thiệp tăng 7,4 điểm và tổng điểm thực hành tăng 2,3 điểm so với trước can thiệp. Nhóm đối chứng không ghi nhận sự thay đổi có ý nghĩa thống kê. Phân tích điểm chênh giữa hai nhóm (DID) cho thấy trung bình điểm chênh kiến thức đạt 5,0 điểm (95%CI: 3,86 – 6,05) và trung bình điểm chênh thực hành đạt 2,0 điểm (95%CI: 1,43 – 2,51).

4. Khối lượng chất thải nạp và tỷ lệ pha loãng được khuyến nghị kỹ thuật là bao nhiêu?
Theo tiêu chuẩn vận hành công trình biogas nhỏ trong điều kiện miền Bắc Việt Nam, khối lượng chất thải nạp khuyến nghị là 25 kg/m3 thể tích bể phân giải/ngày (bao gồm cả phân và nước hòa trộn). Tỷ lệ pha loãng thích hợp được hướng dẫn là 1 kg chất thải chăn nuôi tươi hòa trộn với từ 1 đến 3 lít nước và đánh tan đều trước khi nạp vào bể.

5. Nhóm giáo dục viên (GDV) giữ vai trò gì trong chương trình can thiệp?
Giáo dục viên là 24 người dân thuộc nhóm nòng cốt của nhóm can thiệp, được tập huấn chuyên sâu về kiến thức kỹ thuật biogas và kỹ năng truyền thông. Nhóm này trực tiếp phân phát tài liệu hướng dẫn, thực hiện tư vấn trực tiếp tại hộ gia đình và chia sẻ kinh nghiệm vận hành hàng ngày cho các thành viên khác trong nhóm can thiệp theo phương thức giáo dục đồng đẳng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lưu Quốc Toản đã làm rõ thực trạng thiếu hụt kiến thức và thực hành vận hành công trình biogas hộ gia đình tại hai xã Chuyên Ngoại và Hoàng Tây tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014–2016, phản ánh qua tỷ lệ mẫu nước thải đạt chuẩn vi sinh trước can thiệp chỉ đạt 5,6%. Bằng việc áp dụng mô hình PRECEDE-PROCEED kết hợp các công cụ PRA, nghiên cứu đã xây dựng thành công giải pháp can thiệp truyền thông thông qua mạng lưới 24 giáo dục viên đồng đẳng tại cộng đồng. Kết quả sau can thiệp chứng minh sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về điểm số kiến thức (chênh lệch 5,0 điểm) và thực hành (chênh lệch 2,0 điểm) so với nhóm đối chứng, đồng thời cải thiện chất lượng vệ sinh nước thải biogas đầu ra. Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho công tác quản lý chất thải chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe môi trường nông thôn.