Mở đầu 1. Giới thiệu Ung thư gan là 1 trong 9 bệnh ung thư hay gặp nhất trên toàn thế giới, chiếm 5,6% trong tổng số các bệnh ung thư và là bệnh có tiên lượng xấu. Thời gian sống trung bình từ khi phát hiện khoảng 6 tháng, chỉ có khoảng 4,7% có khả năng sống sót sau 5 năm [26]. Thật nguy hiểm hơn khi ngày càng ảnh hưởng mạnh từ mặt trái của sự phát triển như, ôi nhiễm môi trường, lạm dụng hóa chất trong bảo quản thực phẩm, uống rượu bia,… làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư.
Để tăng khả năng điều trị bệnh ung thư thì yêu cầu cốt yếu là phát hiện bệnh sớm và chính xác. Nhiều thập niên qua, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu ra nhiều phương pháp để chuẩn đoán sớm bệnh ung thư như, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp đồng vị phóng xạ phát positron, chụp cắt lớp, nội soi,…[27]. Các phương pháp trên chủ yếu là chỉ phát hiện được bệnh khi bệnh đã phát triển thành khối u. Một phương pháp có khả năng phát hiện được bệnh sớm hơn, đơn giản, chi phí thấp là phương pháp dùng chất chỉ thị thông qua cảm biến sinh học.
Các thanh dao động với kích thước micromet được ứng dụng làm cảm biến phát hiện chất chỉ thị ung thư được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây. Với độ dày của thanh dao động khoảng 1µm, dài khoảng 500-700µm, nhiều tính chất vật lý của thanh sẽ thay đổi rõ rệt khi một lượng nhỏ chất chỉ thị (chất cần phân tích) bám lên bề mặt thanh. Đo tín hiệu điện hoá, ứng suất bề mặt, độ lệch hoặc sự thay đổi của tần số dao động của thanh thì ta thu được nhiều thông tin chính xác phục vụ cho quá trình phân tích và chẩn đoán bệnh. Hình 1 mô tả sự thay đổi của thanh dao động trước và sau khi gắn kết chất chỉ thị.
a) b) Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Nguyễn Trung Thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Hình 1: a) Thanh dao động khi chưa nhận kháng nguyên; b) thanh dao động nhận kháng nguyên.[1] Hiệu quả của phương pháp phụ thuộc rất lớn vào khả năng cố định các phần tử sinh học lên bề mặt của thanh dao động. Do đó, việc nghiên cứu phương pháp tăng khả năng gắn kết các thụ thể sinh học lên bề mặt thanh dao động là rất cần thiết. Các thanh dao động ứng dụng trong cảm biến sinh học thường làm từ vật liệu SiNx và được phủ lên một lớp vàng và crom mỏng. Bản thân Au và SiNx không phản ứng trực tiếp với các thụ thể nên để gắn kết các thụ thể này lên bề mặt thì chúng ta phải biến đổi bề mặt của thanh dao động.
Đề tài này nghiên cứu phương pháp biến đổi bề mặt thanh dao động nhằm tăng khả năng gắn kháng thể lên bề mặt thanh dao động hướng đến ứng dụng làm cảm biến phát hiện chỉ thị ung thư gan AFP và DKK1. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2. Mục tiêu Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu phương pháp biến đổi bề mặt thanh dao động được phủ lớp Au, SiNx hướng ứng dụng làm cảm biến phát hiện chất chỉ thị AFP và DKK1. Ý nghĩa của đề tài Sử dụng cảm biến thanh dao động để phát hiện các chất chỉ thị ung thư gan là một phương pháp xét nghiệm miễn dịch không đánh dấu, đơn giản, chi phí thấp và đặc biệt là có thể phát hiện được bệnh ung thư gan ở giai đoạn đầu.
Điều này sẽ giúp tăng khả năng điều trị hiệu quả bệnh ung thư gan. Ở nước ta, đây là một đề tài khá mới mẻ. Nghiên cứu này có thể mở ra những hướng nghiên cứu mới về xét nghiệm miễn dịch nhằm chẩn đoán sớm bệnh ung thư gan. Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Nguyễn Trung Thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tóm tắt nội dung của đề tài Nội dung chính của đề tài bao gồm: Khảo sát thí nghiệm biến đổi bề mặt Au của thanh dao động thông qua cysteamine, GAD. Xây dựng quy trình dò tìm AFP. Khảo sát phương pháp biến đổi bề mặt SiNx của thanh dao động thông qua GOPTS, APTES, GAD. Xây dựng quy trình dò tìm DKK1.
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Nguyễn Trung Thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Cảm biến sinh học dựa trên cơ sở thanh dao động 1. Cảm biến sinh học 1. Lịch sử phát triển công nghệ cảm biến sinh học Sự phát triển của cảm biến sinh học đầu tiên gắn liền với cái tên L.
Clark, người đầu tiên đề xuất đầu dò oxy (1956) cho việc xác định oxy trong máu và sau đó được coi là “enzyme electrode” gồm có đầu dò enzim và hai màng lọc máu kèm theo một phần nhỏ dung dịch glucose oxidase giữa chúng (hình 1.1: “enzyme electrode” đầu tiên. Enzim xúc tác sự oxi hoá chuyển đổi glucose thành axít gluconic. Vì vậy, lượng oxy bị phân giải gần bề mặt điện cực tương ứng với nồng độ glucose. Sau này, một thiết bị tương tự với glucose oxidase được giữ trong gel polyacrylamide đã được mô tả bởi Updike và Hicks (1967).
Tuy nhiên, ứng dụng phân tích đầu tiên của cố định enzim đã được tạo ra vào năm 1962 (Guilbault et al. Guilbault đã đề xuất hệ thống cảnh báo cho việc phát hiện sớm chất độc thần kinh. Nó bao gồm 2 điện cực lưới Pt với một thanh xốp hấp thụ chứa các enzim cholinesterase cố định. Năm 1969, cảm biến enzyme potentiometric đầu tiên dựa trên điện cực NH3 chọn lọc và urease cho việc kiểm tra u-rê trong nước tiếu (Guilbault và Montalvo 1969).
Năm 1970, Bergveld đã phát minh transistor hiệu ứng trường chọn lọc ion (ISFET). Năm 1972, cảm biến sinh học thương mại đầu tiên được sản xuất. Nó là thiết bị kiểm tra đường huyết, có dạng cây bút sử dụng một điện cực. Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Nguyễn Trung Thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Năm 1975, Janata phát minh ra cảm biến miễn dịch đầu tiên dự trên một bộ phân thế (potentiometric transducer).
Năm 1976, ra đời cảm biến miễn dịch amperometric đầu tiên (Aizawa et al. Cũng trong năm này, Karube phát mình ra cảm biến sinh học vi khuẩn (microbial biosensor) dựa trên tốc độ hô hấp như là một tín hiệu đặc trưng trong tổng lượng vật chất hữu cơ có thể oxi hoá trong nước. Năm 1980, Peterson phát minh ra cảm biến pH sợi quang đầu tiên trong khí huyết cơ thể. Năm 1982, lần đầu tiên ra đời cảm biến sinh học glucose dựa trên cơ sở sợi quang.
Năm 1983, lần đầu ra đời cảm biên miễn dịch cộng hưởng gen nguyên sinh bề mặt (surface plasmon reconance-SPR). Năm 1984, ra đời cảm biến sinh học đo dòng gián tiếp đầu tiên. Ferrocene được sử dụng với glucose oxidase cho việc thu nhận glucose. Năm 1987, ra mắt cảm biến sinh học đường huyết MediSense ExacTechTM (mô hình dải/bút và dùng một lần).
Năm 1990, ra mắt Pharmacia BIACore SPR dựa trên hệ thống cảm biến sinh học. Năm 1992, i-STAT ra mắt thiết bị phân tích máu cầm tay. Năm 1996, Glucocard được ra mắt. Năm 1998, ra mắt cảm biến sinh học đường huyết LifeScan FastTake.
Năm 2001, LifeScan đã mua hệ thống kinh doanh thiết bị kiểm tra glucose của Inverness Medical’s với giá 1,3 tỷ đô. Từ năm 1999-nay, các nhà nghiên cứu đã ứng dụng một số kỹ thuật như BioNMES, Quantum dots, nanopartivles, Nanocantilever, Nanowire và Nanotube vào cảm biến sinh học [2], [3]. Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của cảm biến sinh học Cấu tạo cơ bản của một cảm biến sinh học được mô ta ở hình 1.2 [5]: Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Nguyễn Trung Thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Sơ đồ cấu tạo của một cảm biến sinh học. Một cảm biến sinh học bao gồm 3 phần chính: (1) các thụ thể (kháng thể, bộ dò DNA, cell receptor…) có thể bắt giữ các phần tử sinh học (như là kháng nguyên, DNA đích, cell…); (2) bề mặt cảm biến, nơi gắn các thụ thể đồng thời cũng là nơi sinh ra các tín hiệu vật lý (độ lệch, điện trở, chiết suất…) hoặc hóa học thay đổi khi các thụ thể bắt giữ được các phần tử sinh học, (3) thiết bị điện tử có nhiệm vụ biến các tín hiệu vật lý, hóa học từ cảm biến và chuyển thành tin hiệu chuyển về hệ thống máy tính để xử lý và hiển thị kết quả.
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của cảm biến sinh học: bề mặt cảm biến được biến đổi và cố định các thụ thể lên đó, khi tiếp xúc với môi trường cần phân tích, các thụ thể này sẽ bắt giữ các chất cần phân tích dẫn đến làm thay đổi một số tính chất hóa, lý của bề mặt (độ lệch, điện trở, chiết suất…). Sau đó, thông qua bộ chuyển đổi, những thay đổi này được chuyển sang các tín hiệu quang, điện, cơ,.và nhờ bộ phận xử lý tín hiệu (vi xử lý, thiết bị điện tử) khuếch đại, đo lường các tín hiệu này và cho ta biết được thông tin về chất phân tích. Phân loại cảm biến sinh học Việc phân loại cảm biến sinh học thông thường dựa vào nguồn gốc các bộ phận chính của chúng (bảng 1.1: Các thành phần chính của một cảm biến sinh học. Thành phần sinh hoá Bộ phận truyền dẫn Thành phần phân tích Enzim Điện hoá Thuốc và chất chuyển hoá của chúng Kháng thể Quang Chất chỉ thị sinh học Axít nucleic Vi cơ điện Vitamin và các chất chống oxi hoá Chất cảm thụ Mass sensitive Các chất chuyển đổi Mô Enthalpiemetric Chất ô nhiễm môi trường Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Nguyễn Trung Thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tế bào Công nghiệp hoá mỹ phẩm Cảm biến sinh học enzim (còn gọi là cảm biến enzim, hay điện cực enzim) sử dụng các enzim làm công cụ trên bề mặt của lớp chuyển đổi.
Cảm biến miễn dịch (immunosensors) sử dụng các thành phần tương tác miễn dịch, như là các kháng thể hay kháng nguyên. Cảm biến DNA bao gồm đầu dò DNA và các aptamer. Một đầu dò DNA là một chuỗi oligonucleotide ngắn sao chép lại một phần của gen. Những cảm biến sinh học dựa trên chuỗi này và được mong đợi thu nhận những đoạn DNA đặc trưng cho những gen thích hợp còn được gọi là genosensors (Yang và McGovern 1997).
Các aptamer cũng bao gồm các nucleotide nhưng không có cấu trúc tương tự như DNA tự nhiên. Những aptamer được tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp và được lựa chọn bằng phép ghi sắc mô phỏng đối chiếu với một mục tiêu phân tích. Những aptamer có thể dựa trên một thư viên RNA, trong khi đó các phần tử RNA tự nhiên vẫn chưa được sử dụng trong cảm biến sinh học.