CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC HỒ ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC HỒ 1. Chức năng và hiện trạng sử dụng các hồ đô thị 1. Vai trò của các hồ đô thị a.
Khái niệm và phân loại hồ đô thị Khái niệm hồ đô thị: là những hồ nằm trong khu vực đô thị có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Sự hình thành các hồ đô thị thường gắn liền với chức năng cụ thể của từng đô thị. Như vậy, hồ ao nói chung và hồ đô thị nói riêng là một loại hình đất ngập nước (wetland), có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Hồ tự nhiên được hình thành do sự vận động của vỏ trái đất tạo nên những vùng trũng chứa nước hoặc do các đoạn sông thay đổi hướng dòng chảy và bị lấp lại,.
Hình dạng, độ sâu của loại hồ phụ thuộc vào điều kiện địa chất và sự hình thành hồ. Hồ nhân tạo do con người đào hoặc xây dựng đê đập chắn giữ nước để dùng cho các hoạt động kinh tế xã hội hoặc để điều tiết nước mưa, làm nơi vui chơi giải trí. Phần lớn các đô thị nằm ở vùng địa hình thấp nên kênh hồ nội thành đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát, điều hòa nước mưa và tiếp nhận nước thải. Hồ đô thị có thể phân thành các nhóm sau [20]: - Nhóm 1: Các hồ có ý nghĩa văn hóa, tâm linh và cảnh quan du lịch; - Nhóm 2: Các hồ có ý nghĩa kinh tế đô thị, điều tiết lũ lụt và nước mưa.
Các loại hồ nhóm 1: Trong hệ thống các hồ ở Hà Nội, hồ Hoàn Kiếm và hồ Tây có ý nghĩa quan trọng về mặt lịch sử, tâm linh của thành phố. Hồ đóng vai trò như là công trình kiến trúc, hình thái thay đổi để tạo cảnh quan cho hồ và các vùng xung quanh. Hồ luôn duy trì mực nước đảm bảo khai thác tốt nhất cho các hoạt động văn hóa và thể thao. Hồ cũng có tham gia điều tiết nước mưa nhưng khả năng hạn chế do thể tích nhỏ.
luan an 8 Các loại hồ nhóm 2: Các đô thị nước ta phần lớn được xây dựng ở những vùng đất thấp nên trong đô thị thường hình thành các kênh hồ để điều hòa, tiêu thoát nước mưa và tạo cảnh quan sinh thái đô thị. Tổ chức hệ thống thoát nước (HTTN) đô thị được thiết lập dựa vào cao độ, độ dốc địa hình, đặc điểm hệ thống kênh mương hồ đô thị, loại và mực nước trong nguồn tiếp nhận nước mưa và nước thải. Mặt khác, hồ đô thị còn có thể được sử dụng cho mục đích vui chơi, du lịch, giải trí cũng như bảo tồn và phát huy các giá trị về lịch sử, tâm linh,. góp phần vào nền kinh tế đô thị.
Chức năng và vai trò của hồ đô thị Thông thường hồ có thể đảm nhiệm nhiều chức năng cùng một lúc nhưng có vai trò và thứ tự ưu tiên cho các chức năng khác nhau phụ thuộc vào vị trí, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và định hướng phát triển đô thị. Tổng quan chung có 4 chức năng và vai trò của hồ đô thị như sau: Tạo cảnh quan và điều hòa khí hậu: Bên cạnh vai trò cải thiện môi trường, hồ đô thị còn có vai trò điều hòa khí hậu, tạo thẩm mỹ. Ngoài ra, hồ còn tạo nên không gian mở, là nơi nghỉ ngơi vui chơi giải trí, giao tiếp, sinh hoạt công cộng của đô thị. Ngày nay, các đô thị hiện đại thường không thể thiếu mặt nước, trong đó có các hồ, đầm.
Điều tiết nước mưa: Đây là chức năng cơ bản của hồ vì hồ là vùng đất trũng nên có chức năng tự nhiên là chứa nước mưa. Tuy nhiên với chức năng này, hồ chỉ có ý nghĩa khi được kết nối với HTTN hợp lý, đồng thời được nạo vét bùn cặn thường xuyên. Tiếp nhận và xử lý nước thải: Đối với những hồ có chức năng tiếp nhận nước thải đô thị thì hồ còn là nơi xử lý chất ô nhiễm do trong hồ có sẵn các vi khuẩn, tảo, các loài thực vật hấp thụ và chuyển hóa các chất ô nhiễm. Tuy nhiên chức năng này còn tùy thuộc vào diện tích, dung tích chứa nước của hồ và lượng chất thải đi vào hồ.
Nuôi cá: Hồ là một thủy vực có chế độ dòng chảy tĩnh, thuận lợi cho thủy sinh vật phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tiềm năng này phụ thuộc nhiều vào chất lượng luan an 9 nước hồ, đặc biệt là hàm lượng ô-xy, chất dinh dưỡng, chất hữu cơ trong nước hồ. Như vậy, các chức năng và vai trò của hồ đô thị luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu được quản lý tốt, chất lượng nước luôn đạt tiêu chuẩn cho phép thì khi liên kết với HTTN đô thị, hồ đô thị sẽ phát huy được chức năng và vai trò sẽ được nâng cao.
Các chức năng này có thể tổ hợp với nhau phụ thuộc vào điều kiện địa lý và sinh thái trong vùng cũng như vị trí của hồ đó trong mỗi đô thị [17]. Hiện trạng sử dụng các hồ đô thị ở Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu và khảo sát 636 hồ nằm trong khu vực đô thị thuộc 46 tỉnh, thành trong cả nước [32], TP. Hà Nội có số hồ đô thị nhiều nhất: 122 hồ, với tổng diện tích mặt nước khoảng 10,74 km2, TP. Hải Dương: 55 hồ, với tổng diện tích hồ 2,52 km2; TP.
Đà Nẵng: 27 hồ đô thị, TP. Việt Trì: 9 hồ. Các hồ thuộc khu vực đô thị thường được sử dụng vào những mục đích sau: a. Sử dụng hồ trong điều tiết nước mưa, tiếp nhận nước thải Hầu hết hiện nay các hồ đô thị trong cả nước được sử dụng với chức năng điều tiết nước mưa cho các khu vực xung quanh hồ, có khoảng 598/636 hồ (chiếm 94 %).
Ngoài mục đích sử dụng là điều tiết nước mưa, hồ đô thị ngày nay còn phải tiếp nhận thêm NTSH của cư dân sống xung quanh khu vực hồ. Qua khảo sát [32], cho thấy có 353/636 hồ đô thị (chiếm 55,5%) sử dụng chức năng tổng hợp này. Đây là chức năng chính của hồ đô thị hiện nay, khi mà hầu hết hệ thống thoát nước mưa và nước thải còn chưa tách riêng nước thải để xử lý, NTSH chưa được xử lý xả vào hồ. Hà Nội, số hồ đô thị được sử dụng với mục đích vừa điều tiết nước mưa vừa tiếp nhận nước thải là 105/122 hồ (chiếm 86%) [5].
Sử dụng hồ tạo cảnh quan sinh thái Bên cạnh vai trò là điều tiết nước mưa, tiếp nhận nước thải, hồ còn có vai trò quan trọng để cải thiện cảnh quan sinh thái và môi trường góp phần cải thiện khí hậu cho khu vực xung quanh. Hà Nội, số hồ đô thị được sử dụng với mục đích tạo cảnh quan sinh thái là 14/122 hồ (chiếm 11,5 %). Sử dụng hồ phục vụ cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu (hồ thủy lợi) Với mục đích sử dụng hồ để cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cùng với đặc điểm các hồ thủy lợi thường được bố trí ở phía đầu nguồn nước và được hình thành từ việc đắp đập. Sử dụng để bảo tồn giá trị di tích lịch sử, tâm linh Trong các đô thị, để gắn liền với lịch sử phát triển đô thị của mình, mỗi đô thị có những hồ mang chức năng bảo tồn giá trị di tích lịch sử gắn liền với truyền thuyết lịch sử xây dựng, phát triển đô thị.
Mặt khác, cũng có một số hồ nằm trong khu di tích lịch sử, tâm linh, ví dụ như hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Đài tưởng niệm ở Hà Nội; Ao cá Bác Hồ (Lai Châu); Hồ Chùa Bầu (Hà Nam),… Trong tổng số 636 hồ được khảo sát thì có 16 hồ (chiếm 2,5 %) hồ gắn liền với di tích lịch sử, tâm linh. Hà Nội, số hồ đô thị được sử dụng với chức năng bảo tồn giá trị di tích lịch sử, tâm linh có 08/122 hồ (chiếm 6,55 %). Sử dụng để nuôi cá Với những hồ đô thị được sử dụng làm chức năng nuôi cá, thực chất các hồ này sẽ có cùng chức năng để điều tiết nước mưa. Trong tổng số 636 hồ được khảo sát thì có 27 hồ (chiếm 4,25 %) sử dụng để nuôi cá.
Thường những hồ này thuộc vùng ven đô thị, có tính chất là hồ tự nhiên, ít phải chịu sự tác động của con người như kè bờ, kinh doanh và du lịch,… f. Sử dụng để chứa nước thải Hiện nay vẫn còn khoảng 12/636 hồ khảo sát được sử dụng với mục đích chứa nước thải (chiếm 1,87%). Các hồ có mục đích sử dụng này thường nằm ven đô, cách xa trung tâm thành phố, là các hồ tự nhiên và chứa nước thải từ hoạt động chăn nuôi. Hà Nội không có hồ nào được sử dụng để chứa nước thải.
Hiện trạng ô nhiễm tại các hồ đô thị ở Việt Nam 1. Nguồn gốc gây ô nhiễm hồ đô thị a. Nước thải và rác thải đô thị Nguồn nước thải và rác thải đô thị là một trong những nguyên nhân chính gây luan an 11 ô nhiễm hồ đô thị. Các khu dân cư sống xung quanh hồ hầu hết chưa có hệ thống thu gom nước thải và xả trực tiếp vào hồ dẫn đến hồ bị ô nhiễm.
Hà Nội, tỷ lệ bao phủ mạng lưới thoát nước, thu gom XLNT đạt 65% [23]. Lượng rác thải đô thị phát sinh khoảng 6.500 tấn/ngày, nhưng khối lượng được thu gom và xử lý khoảng 85% [8]. Vì vậy lượng nước thải và rác thải không được thu gom và xử lý sẽ xả thải vào các khu đất ven hồ, kênh mương gây tình trạng ô nhiễm các nguồn nước mặt. Nước thải của các hộ gia đình và hàng quán đổ thẳng ra hồ làm cho lượng phốt-pho và ni-tơ trong các ao hồ tăng mạnh gây ra hiện tượng phú dưỡng của các loài thực vật nổi và tảo.
Khi tảo chết đi sẽ tích tụ lại dưới đáy ao hồ làm giảm thể tích hồ. Quá trình phân hủy tảo dưới đáy hồ cần một lượng lớn ô-xy trong nước, do đó sẽ làm giảm lượng ô-xy hòa tan trong nước hồ, gây ảnh hưởng đến môi trường sống các loài động vật thủy sinh. Ngoài ra, xác tảo chết dưới đáy hồ còn tạo ra khí có mùi hôi thối, làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân sống quanh hồ. Lượng chất bẩn của một người trong một ngày xả vào HTTN đô thị được thể hiện trong Bảng 1.
Lượng chất bẩn theo đầu người xả vào HTTN đô thị [20] STT Chất ô nhiễm Giá trị, g/người.