CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Phạm trù ngữ pháp thì (temps) 1. Thời gian và đường kẻ thời gian Theo một truyền thống ngữ pháp bắt nguồn từ Aristote, để tri nhận về thời gian, người ta phân chia thời gian thành ba giai đoạn: quá khứ, hiện tại và tương lai(1). Các nhà ngôn ngữ học nhận định: Guillaume nhận định rằng hiện tại có một đặc điểm là tạo nên một vết cắt đôi (une double coupure), một phần vết cắt của quá khứ và một phần vết cắt của tương lai.
Và ông nhận thấy khi đặt hai vết cắt đôi (quá khứ và tương lai) cạnh nhau thì chúng sẽ làm nên hiện tại. (Adeline Patard, 2007, L’imparfait de l’indicatif en français, tr.171) Comrie nhận định rằng yếu tố thời gian được trình bày giống như một đường kẻ (timeline). Trên đường kẻ này, quá khứ thường được quy ước ở phía bên trái và tương lai ở phía bên phải, còn hiện tại được biểu thị bởi một điểm (được gán là 0). Có thể trình bày qua hình sau: (Comrie, 1985, Tense, tr.2) 0 Quá khứ Hiện tại Tương lai Hình 1.1 Đường kẻ thời gian Quá khứ, hiện tại, tương lai là sự phân chia thời gian một cách tương đối của con người.
Thời gian là một yếu tố tồn tại trong mỗi ngôn ngữ. Việc tri nhận thời gian thuộc về phạm trù của tư duy và thời gian được tri nhận như một thực thể (entité). Bất kỳ dân tộc nào hay ngôn ngữ nào cũng đều có sự tri nhận về thời gian: những biến cố đã xảy ra thuộc về quá khứ, những biến cố đang hay vẫn còn diễn ra thuộc về hiện tại và những biến cố sắp hay sẽ diễn ra thuộc về tương lai. Do đó thời gian là một phổ niệm trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới.
(1) Adeline Patard (2007, Thèse, L’un et le multiple - L’imparfait de l’indicatif en français: valeur en langue et usages en discours, tr.31) 9 Một vấn đề chúng tôi nhận thấy cần phải làm rõ đó là thuật ngữ thời gian và thì trong tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong tiếng Anh người ta dùng thuật ngữ rõ ràng, người ta gọi thời gian là time và thì là tense. Trong khi đó tiếng Pháp chỉ dùng một thuật ngữ duy nhất để chỉ thời gian và thì là temps. Chúng tôi nhận thấy thuật ngữ temps gây nên sự hiểu nhầm và mơ hồ cho người Việt học tiếng Pháp và ngay cả chính chúng tôi bước đầu khi nghiên cứu về vấn đề thì và thời gian.
Trong tiếng Pháp có ba thì (quá khứ, hiện tại, tương lai) và chúng tôi nhầm lẫn khi nhận định rằng ba thì này trong tiếng Pháp được xác lập nhờ vào ba giai đoạn của thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), thì và thời gian là một. Hình thái của vị từ (phương tiện diễn đạt thì) Trong các ngôn ngữ Châu Âu như tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, người ta định vị sự tình trên trục thời gian (axe temporel) nhờ vào phương tiện hình thái học của vị từ, có nghĩa là vị từ phải được biến đổi hình thái để biểu thị thời gian mà sự tình đó diễn ra. Việc biến đổi hình thái này của vị từ thuộc về một phạm trù ngữ pháp tiêu biểu trong các thứ tiếng thuộc loại hình ngôn ngữ hoà kết như tiếng Anh, tiếng Pháp, đó là phạm trù ngữ pháp thì. Nói một cách cụ thể, vị từ trong câu của các ngôn ngữ có thì phải luôn được “chia” (tiếng Anh: conjugate, tiếng Pháp: conjuguer) ở thì quá khứ, hiện tại hay tương lai để biểu thị thời gian của sự tình.
Bên cạnh việc biến đổi hình thái của vị từ, người ta cũng sử dụng các trạng ngữ chỉ thời gian đi kèm. Tiếng Anh: (1) Last night, they accepted our offer trạng ngữ vị từ accept ở hình thời gian thái Simple past 10 Tiếng Pháp : (2) La semaine dernière, Thérèse est venue chez nous trạng ngữ vị từ venir ở hình thái thời gian Passé composé Chúng tôi xem vị từ (verbe) như một tín hiệu ngôn ngữ. Dựa theo lý thuyết của Ferdinand de Saussure, chúng tôi mô tả mối tương quan giữa hình thái của vị từ và ý nghĩa của nó. Một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm hai mặt: mặt biểu đạt (signifiant) là hình thái của vị từ (forme verbale) và mặt được biểu đạt (signifié) là ý nghĩa và chức năng của vị từ.
Mặt được biểu đạt Ý nghĩa của vị từ Vị từ (tín hiệu) = Mặt biểu đạt Hình thái của vị từ Hình 1.2 Vị từ như một tín hiệu ngôn ngữ Từ hình 1.2, chúng tôi nhận thấy rằng mỗi hình thái của vị từ đều mang ý nghĩa tương ứng với nó và ngược lại. Ý nghĩa ngữ pháp của vị từ quá khứ hiện tại tương lai Hình thái ngữ pháp của vị từ quá khứ hiện tại tương lai Hình 1.3 Mối tương quan giữa hình thái và ý nghĩa của vị từ 11 Và khi phân tích một cách kỹ càng, chúng tôi còn nhận thấy rằng một hình thái của vị từ ngoài việc biểu đạt về thì, nó còn có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa khác (tính đa nghĩa của một hình thái của vị từ). Hay có thể nói rằng nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng lại phát xuất từ một hình thái. Chúng tôi đơn cử trường hợp của hình thái Imparfait (IMP): Ý nghĩa của IMP quá khứ giả thuyết lịch thiệp Hình thái của IMP hình thái quá khứ IMP Hình 1.4 Một hình thái biểu thị nhiều ý nghĩa 1.
Thì Thì là phương tiện được ngữ pháp hoá để định vị sự tình trên trục thời gian và gắn với sự biến đổi hình thái của vị từ. Do đó, hình thái của vị từ chính là cơ sở để trả lời cho câu hỏi về số lượng thì trong tiếng Pháp. Thì hình thái học trong tiếng Pháp Trong tiếng Pháp, việc biến đổi hình thái của vị từ được đánh dấu thông qua hậu tố biến hình (suffixe flexionnel). Chúng tôi khảo sát những hình thái thuộc thức trần thuật (mode de l’indicatif) và dựa trên mức độ biến đổi hình thái của vị từ (forme verbale) để chúng tôi khẳng định số lượng thì trong tiếng Pháp.
Chúng tôi sử dụng vị từ “aimer”: Bảng 1.1 Ba thì hình thái học trong tiếng Pháp Hình thái Căn tố Hậu tố biến hình Thì hình thái học (thức trần thuật) -ai -as Passé simple aim- Thì quá khứ -a -âmes 12 -âtes -èrent -ais -ais -ait Imparfait aim- -ions -iez -aient -e -es -e Présent aim- Thì hiện tại -ons -ez -ent -ai -as -a Futur simple aimer- Thì tương lai -ons -ez -ont Trong bảng 1.1, chúng tôi nhận thấy hình thái của vị từ “aimer” biến đổi và được đánh dấu bởi các hậu tố biến hình. Căn cứ vào sự biến đổi hình thái của vị từ mà chúng tôi khẳng định rằng trong tiếng Pháp có ba thì (thì hình thái học): thì quá khứ, thì hiện tại và thì tương lai. Do đó, hình thái của vị từ (forme verbale) là cơ sở duy nhất để xác lập số lượng thì trong tiếng Pháp. Bên cạnh đó, các nhà ngữ pháp và các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những khái niệm: (Gosselin, 2004, Temporalité et modalité, tr.28) - Thì (temps) : bên ngoài của sự tình.
13 - Thể (aspect) : cấu trúc thời gian bên trong của sự tình. - Thì tuyệt đối (temps absolu): sự tình được định vị so với thời điểm phát ngôn. - Thì tương đối (temps relatif): sự tình được định vị một cách tương đối với một sự tình khác. Trong thì quá khứ có Passé simple và Imparfait, sự phân biệt giữa hai hình thái quá khứ này chính là sự phân biệt về phạm trù ngữ pháp thể.
Chẳng hạn như: - Passé simple: thể hoàn thành (perfectif) - Imparfait: thể chưa hoàn thành (imperfectif) 1. Mô hình phân tích các mối quan hệ thời gian theo Reinchenbach Reinchenbach đã đưa ra một mô hình để phân tích những hình thái của vị từ. Mô hình này gồm ba điểm (trois points): S, R, E; trong đó (S) là thời điểm phát ngôn, (R) là thời điểm quy chiếu, (E) là thời điểm sự tình diễn ra. Và mô hình này có thể biểu đạt các mối tương quan giữa hai điểm khác nhau với nhau: trùng nhau (coïncidence), trước (antériorité), sau (postériorité).
Nhờ vào mô hình phân tích này mà có thể phân biệt được một cách rõ ràng các hình thái quá khứ trong tiếng Pháp: (phân tích dựa theo Gosselin, 2004, Temporalité et modalité, tr.2 Mô hình phân tích các điểm (R), (E), (S) Hình thái quá khứ Mô hình phân tích Mối tương quan Thời điểm quy chiếu và Passé simple thời điểm biến cố trùng (3) Je vis Louis R,E S nhau Thời điểm phát ngôn và Passé composé thời điểm quy chiếu (4) J’ai vu Louis E S,R trùng nhau 14 Thời điểm quy chiếu nằm sau thời điểm biến cố Plus-que-parfait Thời điểm quy chiếu nằm (5) J’avais vu Louis E R S trước thời điểm phát ngôn Bên cạnh đó thời điểm quy chiếu có thể xác định một cách chính xác nhờ vào trạng ngữ thời gian (un circonstanciel de temps). Xét trường hợp sau: (6) A ce moment-là (sept heures trente), j’avais déjà aperçu Louis depuis 15 minutes. (Phân tích dựa trên Gosselin (2004, Temporalité et modalité, tr.5 Nhưng một vấn đề đặt ra, nếu như dùng mô hình phân tích với ba điểm S, R, E thì liệu rằng có phân biệt được sự khác nhau giữa Passé simple và Imparfait hay không. Xét ví dụ sau: (7) a.
Louis écrivit un traité de théologie b. Louis écrivait un traité de théologie Minh hoạ qua mô hình phân tích: R,E S Hình 1.6 (7a) R nằm trong E S Hình 1.7 (7b) Như vậy nếu như dùng mô hình phân tích ba điểm S, R, E thì khó có thể cho thấy được sự khác biệt giữa Passé simple và Imparfait. Mô hình phân tích các mối quan hệ thời gian theo Gosselin 15 Gosselin đã đưa ra một sự thay thế cho mô hình của Reinchenbach. Ông chuyển từ mô hình phân tích “điểm” (point) sang mô hình phân tích “khoảng” (intervalle): (Gosselin, 2004, Temporalité et modalité, tr.3 Từ “điểm” sang “khoảng” Điểm Khoảng S [01,02] R [I,II] E [B1,B2] Trạng ngữ [ct1,ct2] Trong đó, ông gọi: Khoảng [01,02] : khoảng phát ngôn Khoảng [I,II] : khoảng quy chiếu Khoảng [B1,B2] : khoảng sự tình Khoảng [ct1,ct2] : khoảng trạng ngữ Ông chỉ ra mối tương quan giữa các khoảng với nhau, được mô tả qua các ký hiệu sau: (Gosselin, Les temps verbaux du français : Du système au modèle, tr.4 Mối tương quan giữa các khoảng với nhau Ký hiệu Ý nghĩa A<B A trước B A=B A trùng với B AÌB A nằm trong B AÍB A nằm trong B hoặc trùng với B A£B A trước B hoặc trùng với B Dựa vào mô hình phân tích “khoảng” để thấy sự khác biệt giữa Passé simple và Imparfait trong ví dụ (7a) và (7b): 16 I II B1 B2 01 02 Louis écrivit un traité de théologie Hình 1.