CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa và cách hiểu thống nhất chung về dịch vụ. Sau đây là một số khái niệm liên quan đến dịch vụ: Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất v. Dịch vụ là sự phục vụ góp phần đáp ứng các nhu cầu của cá nhân hay tập thể khác với thể thức chuyển quyền sở hữu một thứ của cải vật chất nào đó (Theo từ điển thuật ngữ kinh tế tài chính). Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng [23]. Định nghĩa này được nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến nhất.
Bản chất của dịch vụ - Dịch vụ là một quá trình, nó diễn ra theo một chu trình nhất định bao gồm nhiều đoạn, nhiều bước khác nhau.Trong mỗi giai đoạn đôi khi có nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. - Dịch vụ gắn liền với hiệu suất/ thành tích bởi mỗi dịch vụ đều có mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích và giá trị và giá trị gia tăng mà người tiêu dùng sẽ nhận được Luan van 7 thông qua việc sử dụng dịch vụ. - Dịch vụ chính là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng.
Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là loại hàng hóa, sản phẩm đặc biệt. Sản phẩm dịch vụ có đặc điểm vô hình, không thể cân đo đong đếm và rất khó kiểm soát chất lượng; không đồng nhất thay đổi theo khách hàng, theo thời gian; không thể tách ly, nhất là những dịch vụ có hàm lượng lao động cao và không thể tồn kho. Nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hiện hữu thông thường không có được 4 đặc tính sau đây: a. Tính vô hình (Intangible) Khác với hàng hóa thông thường, dịch vụ là hiệu quả của quá trình truyền đưa tin tức từ người cung ứng cho đến người nhận vì thế nó không phải là một vật phẩm cụ thể hầu hết dịch vụ đều vô hình, không nhìn thấy, nếm, sờ thấy, cân đo, đong đếm, không thể ngửi thấy hay cảm nhân được trước khi khách hàng sử dụng.
Sản phẩm dịch vụ không hấp dẫn trực tiếp đến các giác quan của khách hàng mà khách hàng sẽ đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc hiện đại, con người, tư liệu quan trọng … của công ty cung ứng dịch vụ mà họ nhìn thấy. Nó phụ thuộc vào niềm tin, mức độ cảm nhận và độ tin cậy của nhà cung cấp. Tính vô hình là đặc điểm cơ bản của dịch vụ, nó không tồn tại dưới dạng vật thể. Tính không đồng nhất (Heterogeneous) Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ.
Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào đối tượng phục vụ, lĩnh vực phục vụ, cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, thời gian và địa điểm phục vụ. Đặc điểm này làm cho việc chuẩn hóa dịch vụ khó có thể thực hiện so với các sản phẩm vật chất thông thường dẫn đến sản phẩm công ty cung ứng dịch vụ dự Luan van 8 định phục vụ có thể hoàn toàn khác với những dự kiến khách hàng sử dụng dịch vụ nhận được. Cùng một loại dịch vụ sẽ có nhiều mức độ thực hiện từ thấp đến cao do vậy việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến các yếu tố liên quan trong từng trường hợp cụ thể. Tính không tách rời (Iseparable) Dịch vụ thường tạo ra và sử dụng đồng thời với nhau do đó rất khó để phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Đối với hàng hóa vật chất, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Hàng hoá thường được sản xuất tập trung một nơi, sau đó vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Ngược lại đối với dịch vụ, khách hàng sử dụng dịch vụ luôn đồng hành trong suốt một hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối có nghĩa là dịch vụ được tạo ra nhờ quá trình tương tác tại những thời điểm thích hợp, trong những không gian xác định.
Yếu tố này ảnh hưởng đến năng suất của nhân viên và chi phí nhân công; còn khách hàng sẽ chịu ảnh hưởng bởi quá trình cung ứng dịch vụ, thái độ của người cung cấp dịch vụ và môi trường diễn ra quá trình cung ứng dịch vụ sẽ tạo ra thỏa mãn đối với người sử dụng. Để quá trình sản xuất thực hiện được thì cần phải có khách hàng, họ đều có nhu cầu mong muốn ở dịch vụ. Tính không thể tồn trữ (Unstored) Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như những hàng hóa vật chất khác. Các hàng hóa thông thường có thể được sản xuất trước khi chúng được bán cho khách hàng.
Các loại hàng hóa này có thể lưu trữ lại nhưng dịch vụ thì không thể bởi dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp, nó không thể sản xuất hàng loạt để cất trữ. Hệ thống cung ứng dịch vụ vẫn phải Luan van 9 hoạt động khi không có khách hàng nào vào thời gian nhàn rỗi, cũng có thể lại rất bận rộn trong mùa cao điểm, đặc trưng bởi nhiều yếu tố biến động sẽ làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn như tăng công suất phục vụ để đáp ứng nhu cầu vào mùa cao điểm thì lại lãng phí vào mùa vắng khách. SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1.
Mục tiêu nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng + Xác định những tính năng, đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng mà khách hàng tiếp nhận; thị trường mục tiêu, tiềm năng; ý kiến đánh giá khách quan, định lượng của khách hàng về chất lượng chung của tổ chức; ý muốn của khách hàng, hành vi của họ bị ảnh hưởng như thế nào bởi sự tiếp nhận chất lượng nêu trên; mức độ thiện chí của khách hàng với các tính năng của sản phẩm, dịch vụ. + Dự báo những cải tiến quan trọng nhằm đạt chất lượng được đánh giá cao nhất.Tìm kiếm các phương thức tổ chức có thể củng cố điểm mạnh và hạn chế điểm yếu để thu hút và giữ khách hàng tốt hơn. + Để so sánh hiệu quả chất lượng của tổ chức với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và các đối thủ cạnh tranh trong tương lai. + Xác định mong đợi và đánh giá của khách hàng với các nhà cung cấp của tổ chức; những yếu tố khách hàng cảm nhận khác về tổ chức qua đó tìm ra hành động khắc phục phòng ngừa.
Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái cảm nhận của một người qua việc tiêu dùng sản phẩm về mức độ lợi ích mà một sản phẩm thực tế đem lại so với những gì người đó kì vọng [1]. Sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó Luan van 10 (Kotler, 2001). Theo Oliver (1997): Sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những mong muốn.
Mức độ hài lòng của khách hàng được xem như sự so sánh giữa mong đợi trước và sau khi mua một sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo Oliver (1981) “Sự hài lòng của khách hàng bị suy giảm thể hiện qua thái độ của họ khi mua hàng hóa”. Bachelet (1995) cho rằng sự hài lòng của khách hàng như một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng qua sự trải nghiệm của họ về một sản phẩm hay một dịch vụ. Đo lường sự hài lòng của khách hàng phục vụ hai vai trò, cung cấp thông tin và thái độ giao tiếp với khách hàng.
Có lẽ, lý do chính để đo lường sự hài lòng của khách hàng là thu thập thông tin, hoặc liên quan đến những gì khách hàng phản hồi để làm tốt hơn hoặc đánh giá như thế nào về việc đáp ứng nhu cầu khách hàng của mình (Varva năm 1997). Đo lường sự hài lòng của khách hàng là một nỗ lực cải thiện chất lượng sản phẩm, kết quả là lợi thế cạnh tranh của công ty (Cravens, Holland, Lamb and Moncrief III, 1988; Garvin, 1991). Sự hài lòng được đo lường theo những cách khác nhau. Brown (1992) định nghĩa sự hài lòng khách hàng: Trong tình trạng khách hàng có nhu cầu, mong muốn và kỳ vọng trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm /dịch vụ được đáp ứng hoặc vượt quá dẫn đến mua hàng lặp lại, sự trung thành và truyền miệng thuận lợi.
Theo Jones và Sasser (1995), bốn yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đó là các yếu tố cơ bản của sản phẩm hoặc dịch vụ, dịch vụ hỗ trợ cơ bản, một quá trình khôi phục chống lại những kinh nghiệm xấu và dịch vụ khác thường. Kotler (1997) định nghĩa: Sự hài lòng là cảm giác niềm vui hay nỗi thất vọng của một người có kết quả từ việc so sánh khả năng cảm nhận một sản Luan van 11 phẩm (hoặc kết quả) trong quan hệ với kì vọng của mình. Frriday và Cotts (1997), khách hàng thật sự hài lòng khi nhu cầu của họ được đáp ứng, sản phẩm, dịch vụ được hài lòng, và trải nghiệm khách hàng là tích cực. Theo Maister (1997), sự hài lòng của khách hàng được xác định bởi công thức: Sự hài lòng của khách hàng = cảm nhận của khách hàng – kì vọng của khách hàng.
Jones và Suh (2000) phân biệt giữa sự hài lòng giao dịch cụ thể (transaction – specific satisfaction) và sự hài lòng tổng thể (overall satisfaction).