1 25

Khám phá ý nghĩa và ứng dụng của số 1 25 trong toán học và cuộc sống hàng ngày. Tìm hiểu cách số này ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác nhau.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài tham gia xét giải thưởng

2019 - 2020

131
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời

Nghiên cứu về khởi nghiệp năng lượng mặt trời Hà Nội đang trở nên cấp thiết. Các công trình khoa học về nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp đã có, nhưng thiếu sự liên kết với ngành năng lượng sạch, đặc biệt là năng lượng mặt trời. Việc này tạo ra một khoảng trống lý thuyết cần được lấp đầy. Nghiên cứu này tập trung vào việc khám phá các yếu tố tác động đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên tại Hà Nội. Mục tiêu là xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khởi nghiệp. Theo Hisrich & Peters (2002), khởi nghiệp là quá trình tạo ra giá trị mới, chấp nhận rủi ro và nhận lại phần thưởng. Dự định là tiền đề của hành động (Ajzen, 1991), do đó, nghiên cứu này tập trung vào việc thúc đẩy dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

1.1. Lý Do Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời

Đề tài được chọn vì khoảng trống lý thuyết và nhu cầu thực tiễn. Thiếu nghiên cứu kết hợp phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong một lĩnh vực cụ thể như năng lượng mặt trời. Các nghiên cứu về năng lượng mặt trời chưa tiếp cận góc nhìn khởi nghiệp. Thực tế, số lượng dự án khởi nghiệp quy mô lớn trong lĩnh vực này còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống này và thúc đẩy sự phát triển của khởi nghiệp xanh Hà Nội.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời Tại Hà Nội

Mục tiêu chính là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên tại Hà Nội. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao ý định khởi nghiệp. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: xác định các nhân tố ảnh hưởng, phân tích mức độ ảnh hưởng và đề xuất các cách thức tăng cường tinh thần khởi nghiệp. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát tại 18 trường đại học ở Hà Nội.

II. Thách Thức và Cơ Hội Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời

Mặc dù có tiềm năng lớn, thị trường năng lượng mặt trời Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Việt Nam đang thiếu các chính sách ưu tiên cho khởi nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, bao gồm nỗi sợ thất bại, thiếu tự tin và ít thông tin về đổi mới sáng tạo. Hạn chế về vốn đầu tư và cơ sở vật chất cũng là những rào cản lớn. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng điện tăng cao và xu hướng đô thị hóa tạo ra cơ hội lớn cho kinh doanh năng lượng mặt trời Hà Nội. Sự phát triển của công nghệ và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều tiềm năng sáng tạo và đột phá.

2.1. Các Rào Cản Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời Cần Vượt Qua

Các rào cản bao gồm thiếu chính sách ưu tiên, hạn chế về vốn đầu tư, cơ sở vật chất và nỗi sợ thất bại. Doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ chính phủ và các tổ chức tài chính. Việc tiếp cận thông tin về công nghệ mới và thị trường cũng gặp nhiều khó khăn. Cần có các giải pháp để giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khởi nghiệp năng lượng mặt trời.

2.2. Tiềm Năng Phát Triển Thị Trường Điện Mặt Trời Tại Hà Nội

Tiềm năng phát triển rất lớn do nhu cầu sử dụng điện tăng cao, xu hướng đô thị hóa và sự phát triển của công nghệ. Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo và đã có nhiều dự án phát triển năng lượng mặt trời được triển khai. Sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng là một yếu tố quan trọng. Cần có các chính sách khuyến khích và hỗ trợ để khai thác tối đa tiềm năng này.

III. Các Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng Đến Khởi Nghiệp Năng Lượng

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời. Các nhân tố này bao gồm: đam mê kinh doanh, nhân tố ngoại cảnh, tiếp cận thông tin, nhận thức hành vi, khả năng tài chínhkiểm soát hành vi. Đam mê kinh doanh là yếu tố quan trọng nhất, thúc đẩy sinh viên theo đuổi con đường khởi nghiệp. Khả năng tài chính cũng đóng vai trò then chốt, quyết định khả năng thực hiện dự án. Tiếp cận thông tin giúp sinh viên nắm bắt cơ hội và giảm thiểu rủi ro. Các nhân tố khác như nhận thức hành vikiểm soát hành vi cũng ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp.

3.1. Tầm Quan Trọng Của Đam Mê Kinh Doanh Trong Khởi Nghiệp

Đam mê kinh doanh là động lực chính thúc đẩy sinh viên khởi nghiệp. Những người có đam mê thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro và vượt qua khó khăn. Đam mê cũng giúp họ tìm kiếm cơ hội và sáng tạo ra những sản phẩm, dịch vụ độc đáo. Cần có các chương trình đào tạo và tư vấn để khơi dậy và nuôi dưỡng đam mê kinh doanh cho sinh viên.

3.2. Ảnh Hưởng Của Khả Năng Tài Chính Đến Khởi Nghiệp Năng Lượng

Khả năng tài chính là yếu tố then chốt quyết định khả năng thực hiện dự án khởi nghiệp. Thiếu vốn là một trong những rào cản lớn nhất đối với sinh viên khởi nghiệp. Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính, như cho vay ưu đãi, quỹ đầu tư mạo hiểm, để giúp sinh viên tiếp cận nguồn vốn. Ngoài ra, sinh viên cũng cần được trang bị kiến thức về quản lý tài chính và kêu gọi vốn đầu tư.

3.3. Vai Trò Của Tiếp Cận Thông Tin Trong Khởi Nghiệp Thành Công

Tiếp cận thông tin giúp sinh viên nắm bắt cơ hội, giảm thiểu rủi ro và đưa ra quyết định sáng suốt. Thông tin về thị trường, công nghệ, chính sách và đối thủ cạnh tranh là rất quan trọng. Cần có các kênh thông tin hiệu quả để cung cấp thông tin cho sinh viên, như hội thảo, workshop, website và mạng xã hội.

IV. Giải Pháp Thúc Đẩy Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời Tại Hà Nội

Để thúc đẩy khởi nghiệp năng lượng mặt trời Hà Nội, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính phủ, nhà trường và cộng đồng doanh nghiệp. Chính phủ cần ban hành các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Nhà trường cần tăng cường đào tạo về khởi nghiệp xanhkinh tế xanh, trang bị cho sinh viên kiến thức và kỹ năng cần thiết. Cộng đồng doanh nghiệp cần tạo ra môi trường hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối sinh viên với các nhà đầu tư.

4.1. Chính Sách Hỗ Trợ Khởi Nghiệp Năng Lượng Mặt Trời Từ Chính Phủ

Chính phủ cần ban hành các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Cần có các quy định rõ ràng và minh bạch về pháp lý năng lượng mặt trời để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. Ngoài ra, chính phủ cũng cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ năng lượng mặt trời để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

4.2. Vai Trò Của Giáo Dục Khởi Nghiệp Trong Các Trường Đại Học

Nhà trường cần tăng cường đào tạo về khởi nghiệp xanhkinh tế xanh, trang bị cho sinh viên kiến thức và kỹ năng cần thiết. Cần có các chương trình thực tập và dự án thực tế để sinh viên có cơ hội trải nghiệm và học hỏi. Ngoài ra, nhà trường cũng cần tạo ra môi trường khuyến khích sáng tạo và đổi mới, hỗ trợ sinh viên phát triển ý tưởng và thành lập doanh nghiệp.

4.3. Hợp Tác Giữa Doanh Nghiệp Và Trường Đại Học Để Phát Triển

Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp và trường đại học để tạo ra môi trường hỗ trợ khởi nghiệp năng lượng mặt trời. Doanh nghiệp có thể cung cấp cơ hội thực tập, tài trợ dự án và chia sẻ kinh nghiệm cho sinh viên. Trường đại học có thể cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ. Sự hợp tác này sẽ giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển bền vững và đóng góp vào sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Khởi Nghiệp

Kết quả nghiên cứu này có thể được ứng dụng để xây dựng các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp năng lượng mặt trời hiệu quả hơn. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng kết quả này để thiết kế các chính sách ưu đãi phù hợp. Các trường đại học có thể sử dụng kết quả này để cải thiện chương trình đào tạo và tư vấn cho sinh viên. Các doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả này để tìm kiếm và hỗ trợ các tài năng trẻ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

5.1. Xây Dựng Chương Trình Hỗ Trợ Khởi Nghiệp Hiệu Quả

Dựa trên kết quả nghiên cứu, có thể xây dựng các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp năng lượng mặt trời tập trung vào các yếu tố quan trọng như đam mê kinh doanh, khả năng tài chínhtiếp cận thông tin. Các chương trình này có thể bao gồm các khóa đào tạo, tư vấn, hỗ trợ tài chính và kết nối mạng lưới.

5.2. Cải Thiện Chương Trình Đào Tạo Tại Các Trường Đại Học

Các trường đại học có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để cải thiện chương trình đào tạo về khởi nghiệp xanhkinh tế xanh. Cần tăng cường các môn học về quản lý tài chính, marketing và kỹ năng mềm. Ngoài ra, cần tạo ra các cơ hội thực tập và dự án thực tế để sinh viên có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tế.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Năng Lượng

Nghiên cứu này đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy khởi nghiệp xanh và phát triển ngành năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp năng lượng mặt trời và tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để giải quyết các thách thức trong lĩnh vực này.

6.1. Đánh Giá Hiệu Quả Các Chương Trình Hỗ Trợ Khởi Nghiệp

Cần có các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp năng lượng mặt trời hiện có. Các nghiên cứu này có thể tập trung vào việc đo lường tác động của các chương trình đến số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp khởi nghiệp.

6.2. Tìm Kiếm Giải Pháp Sáng Tạo Cho Ngành Năng Lượng Tái Tạo

Cần có các nghiên cứu để tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để giải quyết các thách thức trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Các nghiên cứu này có thể tập trung vào việc phát triển công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới và chính sách mới.

05/06/2025
1 25

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU public void disconnect() { if(con != null) { try { con.close(); } catch (Exception e) { // TODO: handle exception e.printStackTrace(); } } } public static Connection getConnection() { return con; } } 1. Lý do chọn đề tài Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết Theo Hisrich & Peters (2002), thuật ngữ “Khởi nghiệp” là “một quá trình tạo nên một thứ mới, có giá trị bằng việc cống hiến thời gian và các nỗ lực cần thiết, gánh chịu các rủi ro đi kèm về tài chính, tinh thần, xã hội và kết quả là nhận những phần thưởng về tiền bạc, sự thỏa nguyện cá nhân và độc lập”. Bên cạnh đó, dự định là tiền đề của hành động và hành vi (Ajzen, 1991). Một yếu tố quan trọng là việc xác định điều gì thúc đẩy dự định khởi nghiệp (DDKN).

“Dự định được cho là yếu tố thúc đẩy ảnh hưởng đến hành vi” (Ajzen, 1991). Vì vậy, “xây dựng DDKN là trọng tâm của phần lớn công việc, bắt đầu từ việc điều tra các đặc điểm tính cách cụ thể và các đặc điểm nhân khẩu học đến việc tiếp cận thái độ và hành vi của từng cá nhân” (Liñán, Rodríguez-Cohard và Rueda-Cantuche, 2011). “Trên thế giới, việc khích lệ khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các nền kinh tế và xã hội hiện đại” (Holmgren và From, 2005; Ozaralli và Rivenburgh, 2016). “Khởi nghiệp thúc đẩy các thế hệ lao động, thúc đẩy sự đổi mới về công nghệ và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, của cải của mỗi quốc gia bằng cách tại ra những cơ hội thị trường mới” (Holmgren và From, 2005).

“Do đó, trong những năm gần đây, nhiều Chính phủ tại các quốc gia đã và đang phát triển đã chú trọng các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp trong dân số nói chung, và thanh niên nói riêng” (Dioneo - Adetayo, 2006; Holmgren và From, 2005; Koe, Sa’ari, Majid và Ismail, 2012; Ozaralli và Rivenburgh, 2016; Sharma và Madan, 2014). “Hiện nay trên thế giới có vô số những bài nghiên cứu về nhân tố tác động đến DDKN của sinh viên, tuy nhiên các nghiên cứu về DDKN thường được thực hiện ở các sinh viên nhóm ngành kinh tế và quản trị kinh doanh” (David và cộng sự 2007), rất thiếu những nghiên cứu ở sinh viên trong ngành năng lượng. Thêm vào đó, các nghiên cứu cùng đề tài trước đây chủ yếu tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới DDKN nói chung, thiếu các nghiên cứu kết hợp phân tích giữa các nhân tố đó với DDKN trong một lĩnh vực cụ thể. Các nghiên cứu về ngành năng lượng mặt trời tuy ghi nhận số lượng không nhỏ nhưng lại không tiếp cận đến góc nhìn khởi nghiệp, kinh doanh.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Xét về thực trạng khởi nghiệp tại Việt Nam, theo bản báo cáo của “KrAsia, Bain&Co” năm 2018, “Việt Nam đã thu hút một con số khoảng 150 triệu USD đầu tư trong năm 2018, gấp đôi số liệu được thu thập năm 2017. Các doanh nghiệp khởi nghiệp 10 package connectDB; import java.Connection; import java.DriverManager; import java.SQLException; public class ConnectDB { public static Connection con = null; private static ConnectDB instance = new ConnectDB(); public static ConnectDB getInstance() { return instance; } public void connect() throws SQLException { String url = "jdbc:sqlserver://localhost:1433;database name=QLNVIEN"; String user = "sa"; String pw = "123"; con = DriverManager.println("thanh cong"); } } giai đoạn đầu ở Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục thu hút nhiều khoản đầu tư lớn với ước public void disconnect() { if(con != null) { try { con.close(); } catch (Exception e) { // TODO: handle exception e.printStackTrace(); } } } public static Connection getConnection() { return con; } } tính của các khoảng 2020 và 2021 lần lượt là 320 triệu USD và 440 triệu USD. Như vậy có thể thấy, những con số đã chứng minh trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam các năm vừa qua đã chạm tới một kết quả hết sức ấn tượng về cả số lượng và chất lượng. Cụ thể trong năm 2012, Việt Nam chỉ có khoảng 400 doanh nghiệp khởi nghiệp, tuy nhiên con số này lên đến 1,800 vào năm 2015, tăng gấp 4 lần; con số này tiếp tục tăng trưởng trong 2018 và 2019 với con số ấn tượng là 4,000 start-up”.

Hiện nay, Việt Nam đang được các chuyên gia xếp hạng cao so với các quốc gia đang phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo. Từ những sự hiểu biết ít về khái niệm khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam những năm 2012-2013 đến sự vươn lên đứng thứ ba trong các nước Asean, sau Singapore, Việt Nam đang dần vươn lên vững mạnh hơn trong tốc độ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp và phong phú hệ sinh thái khởi nghiệp. Hiễu rõ những “lợi thế môi trường”, xã hội ở Việt Nam cũng như những “lợi ích về kinh tế” to lớn mà các doanh nghiệp khởi nghiệp đã và đang đem lại, chính phủ ta đang tích cực tạo thêm nhiều nhiều điều kiện ủng hộ cho các doanh nghiệp Việt Nam qua nhiều hình thức như các chương trình khởi nghiệp, chính sách, dự án hỗ trợ nghiên cứu đổi mới sáng tạo từ các địa phương nhỏ lẻ cho đến tỉnh thành lớn: “Dự án IPP hợp tác với Chính phủ Phần Lan, Chương trình FIRST do Ngân hàng thế giới tài trợ, Chương trình BIPP hợp tác với Bỉ và đặc biệt là Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đến năm 2025”. Ngoài ra, chính phủ ta cũng hình thành những cơ quan liên quan đến khởi nghiệp như: “Qũy Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp quốc gia”, “Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp”, … góp phần đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua việc hỗ trợ cầu nối vốn, quỹ đầu tư từ các nhà đầu tư đến với từng doanh nghiệp khởi nghiệp cũng như tăng cường đào tạo, tập huấn và trợ giúp pháp lý cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đang còn ở quy mô nhỏ.

Hiện nay, có nhiều lỗ hổng vẫn còn tồn đọng: 1. Thiếu các chính sách ưu tiên cho khởi nghiệp: Hiện nay Việt Nam đang còn thiếu những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp. Cụ thể các doanh nghiệp FDI chưa được lan tỏa vào kinh tế khởi nghiệp trong các địa phương. Người ta nhận định rằng ở các tỉnh thành, doanh nghiệp khởi nghiệp chưa thật sự được ưu tiên về các chính sách cũng như các hỗ trợ phát triển.

Thêm vào đó, các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ngoài có phần được ưu tiên hơn. Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam còn mang nhiều hạn chế: Tuy thực trạng khởi nghiệp Việt Nam trong những năm 2017-2019 đã đạt được một con số ấn tượng thể hiện sự tăng lên của người tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều chỉ số chỉ ra rằng Việt Nam vẫn còn kém xa các nước cùng trình độ kinh tế và các nước trong khu cực Đông Nam Á. Một số hạn chế như: người khởi nghiệp lo sợ những thất bại có thể xảy ra, không tự tin vào khả năng kinh doanh, 11 package connectDB; import java.Connection; import java.DriverManager; import java.SQLException; public class ConnectDB { public static Connection con = null; private static ConnectDB instance = new ConnectDB(); public static ConnectDB getInstance() { return instance; } public void connect() throws SQLException { String url = "jdbc:sqlserver://localhost:1433;database name=QLNVIEN"; String user = "sa"; String pw = "123"; con = DriverManager.println("thanh cong"); } } lĩnh vực kinh doanh và ít thông tin tìm hiểu về những sự đổi mới sáng tạo trong public void disconnect() { if(con != null) { try { con.close(); } catch (Exception e) { // TODO: handle exception e.printStackTrace(); } } } public static Connection getConnection() { return con; } } kinh doanh,… Thêm vào đó, các vấn đề hạn chế liên quan đến chính phủ như các chương trình hỗ trợ của chính phủ, chính sách của chính phủ hay các sự chuyển giao công nghệ vẫn không được cải thiện phần nào so với các năm trước. Chính phủ thực hiện các công việc chậm chạp, nhiều thủ tục và kém hiệu quả chính là lời nhận xét chung của các doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng và các doanh nghiệp lớn nói chung.

Hạn chế về vốn đầu tư: Hiện nay trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam các dự án khởi nghiệp được bắt đầu với một nguồn vốn hạn hẹp của một cá nhân hoặc các thành viên gia đình, và khả năng vay vốn ngân hàng cũng như kêu gọi các nhà đầu tư đnag còn rất hạn chế và khó khăn. Hạn chế về cơ sở vật chất để nghiên cứu phát triển: các dự án khởi nghiệp thường không đủ hoặc thiếu điều kiện để trang trải và đầu tư vào phòng thí nghiệm hay cho các loại máy móc và thiết bị để phục vụ nghiên cứu thị trường. Việc này dẫn tới sản phẩm của các doanh nghiệp còn hạn hẹp, không được phát triển phù hợp với nhịp sống của người tiêu dùng. Đi sâu hơn vào phân tích thực trạng khởi nghiệp lĩnh vực Năng lượng mặt trời (NLMT) tại Việt Nam, nhóm tác giả nhận thấy có rất nhiều điểm sáng.

Nhu cầu sử dụng điện cũng như “tỷ trọng năng lượng hóa thạch” dùng trong sản xuất điện ở Việt Nam khá lớn. Điều này dẫn tới nguy cơ thiếu hụt “nguồn năng lượng hóa thạch” trong tương lai ở một nước đang đà phát triển mạnh như Việt Nam, đồng thời cũng gây ra tác động xấu tới môi trường do sự ô nhiễm mà loại năng lượng này mang đến. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2019, “Việt Nam có 33.548 người sống tại các thành thị, chiếm 34,4% tổng dân số cả nước, trong giai đoạn 2009 – 2019 tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành thị là 2,64%/năm, gấp nhiều hơn hai lần so với tỷ lệ tăng ở khu vực nông thôn”. Như vậy xu thế “đô thị hóa” cũng đang phát triển rất mạnh kéo theo rất nhiều nguy cơ về năng lượng và môi trường liên quan.

Vấn đề đặt ra cho các đô thị phát triển là với “xu thế toàn cầu hóa” và “đô thị hóa” ngày càng tăng, làm thế nào để cân bằng giữa phát triển với khan hiếm tài nguyên và các vấn đề ô nhiễm môi trường? Cùng với sự phát triển của “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, hệ thống năng lượng mặt trời đang dần phổ biến trong vài năm trở lại đây. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng khá lớn về năng lượng tái tạo và đã có nhiều dự án phát triển NLMT được triển khai thực hiện bước đầu đem lại kết quả nhất định. Chỉ trong nửa đầu năm 2018, “Bộ Công thương ghi nhận 272 dự án nhà máy điện mặt trời với tổng công suất khoảng 17.500 MW, gấp 9 nhà máy thủy điện Hòa Bình và 12 package connectDB; import java.Connection; import java.DriverManager; import java.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ