mở đầu cho cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân Pháp ở nước ta (1945 – 1954). Trước tình hình đó, Thường vụ trung ương kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Những đơn vị “Nam tiến” được thành lập, nhiều cán bộ được cử vào chi viện cho Nam Bộ. Đối với thế lực của Tưởng, ta chủ trương hòa hoãn, làm cho Tưởng rút quân càng nhanh càng tốt ra khỏi miền Bắc nước ta.
Trong những lần tiếp xúc với các tướng lĩnh của Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu chủ trương “Hoa - Việt thân thiện” và sẵn sàng hợp tác với quân Tưởng trong thời gian làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Bằng sức thuyết phục của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được chúng, từ đó ta khai thác được những điểm khác nhau giữa từng lực lượng trong nội bộ quân Tưởng, giữa tập đoàn quân Tưởng ở Đông Dương và Trùng Khánh, và nhất là giữa quân Tưởng và quân Pháp trong vấn đề Việt Nam - Đông Dương. Với sự hòa hoãn giữa ta và Tưởng đã làm cho Pháp thêm lo sợ và thế lực tay sai của Tưởng, Pháp thêm hoang mang. Tuy lực lượng Việt Quốc, Việt Cách vẫn tìm mọi cách để làm rối loạn xã hội, nhưng với thái độ kiên trì thương lượng của ta nên cuối cùng chúng phải thỏa hiệp với ta để tồn tại.
Để tránh gây trở ngại cho tiền đề giải phóng dân tộc, ta đã cố gắng kiềm chế trước những hành vi cướp bóc, ức hiếp của quân Tưởng đối với nhân dân ta, có những lúc chúng đưa ra những yêu sách mà ta không thể chấp nhân như đòi Nguyễn Hải Thần làm Chủ tịch chính phủ thay thế Hồ Chí Minh, đòi cải tổ Việt Minh, Đề tài nghiên cứu khoa học SV: Hoàng Văn Tuấn Trường Đại Học Thủ Dầu Một 15 GVHD: Nguyễn Thị Kim Ánh thay Quốc kỳ… Tuy nhiên, ta cũng phải nhường cho chúng một số quyền lợi như: nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế quốc hội không qua bầu cử, cho Nguyễn Hải Thần làm phó Chủ tịch, nhường 4 ghế bộ trưởng, nhận tiêu tiền Quan Kim và Quốc Tệ trong lúc đang mất giá, nhận cung cấp lương thực thực phẩm cho cho chúng. Với sách lược đúng đắn ta đã từng bước làm thế lực của Tưởng Giới Thạch và tay sai không thể thực hiện được mục tiêu của chúng trong “Hoa quân nhập Việt”, dù với tư cách Đồng Minh vào nước ta để thực thi quyết định của các nước lớn về Đông Dương. Nước ta cải thiện được vị thế của mình trong quan hệ với lực lượng Đồng minh và các nước lớn. Tóm lại, việc hòa hoãn với Tưởng ta tránh được một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù.
Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 a. Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến Hiệp định Sau hơn năm tháng đánh Pháp ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và hòa hoãn với quân Trung Hoa dân quốc ở miền Bắc, dân tộc ta lại đứng trước một tình thế hết sức phức tạp. Quân Trung Hoa dân quốc ký với Pháp hiệp định Hoa – Pháp (28/2/1946), cho Pháp thay thế ra Bắc giải giáp quân Nhật: “Đây là kết quả mua bán, đổi chác giữa Tưởng và Pháp trên lưng ta. Việc ký hiệp ước còn thể hiện rõ dã tâm của bọn thưc dân Pháp muốn chiếm nước ta một lần nữa”[29;88].
Với Hiệp ước này, việc quân Pháp vào miền Bắc nước ta không còn chỉ là khả năng mà sẽ là hiện thực chắc chắn trước mắt. Cuộc xâm lược của chúng đã được khoác chiếc áo hợp pháp là thay quân Tưởng làm tiếp nhiệm vụ của Đồng minh. Như vậy, trên thực tế quân Đồng minh đã hoàn thành nhiệm vụ giúp thực dân Pháp trở lại Đông Dương. Tình thế đã đặt Nhà nước ta trước hai khả năng cần lựa chọn: hoặc là tiếp tục đánh Pháp, hoặc là thỏa thuận với Pháp, đồng ý việc đưa quân Pháp vào miền Bắc với một số điều kiện của ta.
Khả năng thứ nhất sẽ dẫn đến chiến tranh với hai kẻ thù cùng một lúc. Khả năng thứ hai cũng có nghĩa là chấp nhận nước ta tạm thời trong tình trạng độc lập không hoàn toàn. Để có thời gian xây dựng mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc, cũng như là để duy trì và củng cố thành quả cách mạng vào lúc ta chưa chuẩn bị sẵn sàng khả năng đương đầu bằng quân sự với đối phương, Trung ương Đảng họp (5/3/1946) đã nhất trí tán thành chủ trương “Hòa để tiến” của Ban Thường vụ. Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho sự thỏa thuận giữa ta và Pháp.
Chỉ thị nhấn mạnh: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta” [29; 89]. Tuy đã nhất trí hòa với Pháp là biện pháp tốt nhất với ta lúc này nhưng cũng cân nhắc đến khả năng đánh Pháp là cuối cùng nếu như Pháp không chịu nhân nhượng ta, Đề tài nghiên cứu khoa học SV: Hoàng Văn Tuấn Trường Đại Học Thủ Dầu Một 16 GVHD: Nguyễn Thị Kim Ánh áp đặt tuyên ngôn ngày 24/3/1945 thì nhất định ta phải đánh và có thể là đánh lâu dài theo lối du kích của ta. Nhất trí chủ trương, ngày 6/3/1946 Chính phủ ta ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ để Pháp đưa quân ra tiếp quản miền Bắc thay thế quân Tưởng. Nội dung cơ bản của Hiệp định Nội dung cơ bản của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và văn bản phụ khoản kèm theo Hiệp định bao gồm những điềm chính sau: 1.
Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có Chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng của mình và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương, ở trong khối Liên hiệp Pháp. Việc hợp nhất “Ba kỳ”, Chính phủ Pháp cam kết thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết. Chính phủ Việt Nam chấp nhận để 15000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa. Số quân Pháp kể trên sẽ rút hết trong vòng 5 năm, trừ số quân phụ trách quản lý tù binh Nhật sẽ rút sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Sau khi Hiệp định được ký kết, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí tạm thời. Hai bên đồng ý “Mở ngay cuộc đàm phán (chính thức) thân thiện và thành thực”.Trong cuộc đàm phán đó sẽ bàn ba vấn đề: a. Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài. Chế độ tương lai của Đông Dương.
Những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam. Tình hình nước ta từ sau ngày 6/3/1946 đến năm 1949 1. Hoạt động ngoại giao của Đảng từ sau ngày 6/3/1946 đến ngày 19/12/1946 Mặc dù ta đã ký với Pháp Hiệp định sơ bô, nhường cho chúng những quyền lợi về kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, đế quốc Pháp không chịu thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ, tiếp tục khiêu khích nhiều nơi, những viêc làm này của thực dân Pháp càng thể hiện rõ dã tâm cướp nước ta một lần nữa.
Để cứu vãn tình thế, tranh thủ thêm thời gian hòa bình, kéo dài thời gian hòa hoãn nhằm chuẩn bị thêm cho cuộc kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký thêm với Pháp bản Tạm ước ngày 14/9/1946 với nội dung tương tự nội dung của Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Với việc ký với Pháp bản Tạm ước 14/9/1946, ta đã có khoảng thời gian hơn một năm tương đối hòa bình xây dựng lực lượng về mọi mặt, củng cố chính quyền nhân dân. Mở rộng và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, ổn định đời sống kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng các chiến khu, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu Đề tài nghiên cứu khoa học SV: Hoàng Văn Tuấn Trường Đại Học Thủ Dầu Một 17 GVHD: Nguyễn Thị Kim Ánh dài, mở rộng tuyên truyền trong nước và quốc tế về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Mặc dù đã ký với ta Hiệp định sơ bộ và Tạm ước nhưng thực dân Pháp vẫn tăng cường khiêu khích và gây hấn với ta.
Trước tình thế ta càng nhân nhượng địch càng lấn tới, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (10/1946) nhận định: “Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp” [1; 95]. Hội nghị Thường vụ Trung ương họp ở Vạn Phúc (ngày 17 và 18/12/1946) đã hạ quyết tâm phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Và “Khi Pháp đã cố ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn được thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu” [1; 97]. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946): Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng.
Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng.
Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm! Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ thị của Đảng và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh là cương lĩnh dẫn dắt và tổ chức nhân dân ta trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp. Cùng ngày, các lực lượng vũ trang của ta được lệnh chủ động tiến công trước quân địch, giam chân địch trong thành phố nhằm giúp cho cả nước nhanh chóng chuyển sang thời chiến.