Việt nam ba bản hiệp định trong hai cuộc chiến1945 1975

Chuyên khảo phân tích Việt nam ba bản hiệp định trong hai cuộc chiến1945 1975, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2014

128
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hiệp Định Lịch Sử Việt Nam 1945 1975

Nghiên cứu các hiệp định lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1975 có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ quá trình đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Các hiệp định này không chỉ là văn bản pháp lý mà còn là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường, kết hợp với thắng lợi trên chiến trường. Ba bản Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định Geneva 1954, và Hiệp định Paris 1973 đánh dấu những bước ngoặt quan trọng, thể hiện sự trưởng thành của nền Ngoại giao Việt Nam hiện đại. Nghiên cứu này giúp làm sáng tỏ sự sáng tạo của Đảng và Chính phủ trong chỉ đạo chiến lược, sách lược, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Hiệp Định Lịch Sử Việt Nam

Nghiên cứu các hiệp định lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Nó cũng làm sáng tỏ vai trò của Ngoại giao Việt Nam trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Việc phân tích các điều khoản, bối cảnh lịch sử, và tác động của các hiệp định này cung cấp cái nhìn sâu sắc về Lịch sử Ngoại giao Việt Nam.

1.2. Mục Tiêu Và Phạm Vi Nghiên Cứu Các Hiệp Định Giai Đoạn 1945 1975

Nghiên cứu tập trung vào phân tích bối cảnh lịch sử, nội dung, và ý nghĩa của ba bản hiệp định chính: Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định Geneva 1954, và Hiệp định Paris 1973. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các hoạt động đàm phán hòa bình, các bên liên quan, và tác động của các hiệp định đến tình hình chính trị, quân sự, và xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975.

II. Phân Tích Bối Cảnh Ký Kết Hiệp Định Sơ Bộ 6 3 1946

Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946 được ký kết trong bối cảnh phức tạp sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Thực dân Pháp âm mưu quay trở lại xâm lược, trong khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tìm cách giữ vững nền độc lập và hòa bình. Hiệp định này là một giải pháp tạm thời, giúp ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng và củng cố chính quyền. Theo tài liệu nghiên cứu, "Chính sách đối ngoại có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống các chính sách của Đảng. Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cốt yếu cho một nước độc lập."

2.1. Hoàn Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Hiệp Định Sơ Bộ 6 3 1946

Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn: nạn đói, giặc dốt, và sự đe dọa từ các thế lực ngoại xâm. Thực dân Pháp tìm cách quay trở lại xâm lược, trong khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tìm cách giữ vững nền độc lập. Hiệp định Sơ bộ là một giải pháp tình thế, giúp ta tránh được cuộc chiến tranh sớm với Pháp.

2.2. Nội Dung Cơ Bản Và Ý Nghĩa Của Hiệp Định Sơ Bộ 6 3 1946

Hiệp định Sơ bộ công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Pháp công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, Hiệp định cũng cho phép Pháp đưa quân ra Bắc để thay thế quân Tưởng. Ý nghĩa lịch sử của Hiệp định là giúp ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng và củng cố chính quyền.

2.3. Tác Động Của Hiệp Định Sơ Bộ Đến Quan Hệ Việt Pháp

Hiệp định Sơ bộ chỉ là một giải pháp tạm thời, không giải quyết được triệt để mâu thuẫn giữa Việt Nam và Pháp. Sau khi ký Hiệp định, Pháp vẫn tiếp tục gây hấn và tìm cách xâm lược Việt Nam. Cuộc đàm phán Fontainebleau 1946 không đạt được kết quả, và chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp là không thể tránh khỏi.

III. Hiệp Định Geneva 1954 Bước Ngoặt Trong Chiến Tranh Đông Dương

Hiệp định Geneva 1954 là kết quả của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ngồi vào bàn đàm phán và công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Tuy nhiên, Hiệp định cũng chia cắt Việt Nam thành hai miền, tạo tiền đề cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sau này. Theo tài liệu, "Ngoại giao tranh thủ sự giúp đỡ về vật chất. Ngoại giao tranh thủ sự giúp đỡ về kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh."

3.1. Bối Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Hiệp Định Geneva 1954

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán. Các cường quốc như Trung Quốc, Liên Xô, và Hoa Kỳ cũng tham gia vào quá trình đàm phán. Hội nghị Geneva là một sự kiện quốc tế quan trọng, đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương.

3.2. Nội Dung Chính Của Hiệp Định Geneva Về Việt Nam

Hiệp định Geneva công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiệp định cũng quy định việc chia cắt Việt Nam thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. Tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức vào năm 1956 để thống nhất đất nước.

3.3. Ý Nghĩa Lịch Sử Và Hạn Chế Của Hiệp Định Geneva 1954

Hiệp định Geneva là một thắng lợi lớn của Ngoại giao Việt Nam, buộc Pháp phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta. Tuy nhiên, việc chia cắt đất nước và sự can thiệp của Hoa Kỳ đã dẫn đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sau này. Hiệp định Geneva không thể giải quyết triệt để vấn đề Việt Nam.

IV. Hiệp Định Paris 1973 Kết Thúc Chiến Tranh Việt Nam

Hiệp định Paris 1973 là kết quả của cuộc Hội nghị Paris kéo dài và đầy khó khăn. Sau nhiều năm đàm phán, các bên đã đạt được thỏa thuận về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định đánh dấu sự thất bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tạo điều kiện cho Thống nhất đất nước vào năm 1975. Theo tài liệu, "Ngoại giao góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đi đến ký Hiệp định Paris (1969 – 1973)."

4.1. Bối Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Hiệp Định Paris 1973

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã trải qua nhiều giai đoạn, với những chiến thắng quan trọng như Mậu Thân 1968Điện Biên Phủ trên không 1972. Hoa Kỳ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán do áp lực từ dư luận trong nước và quốc tế. Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán phức tạp, với sự tham gia của nhiều bên liên quan.

4.2. Nội Dung Chính Của Hiệp Định Paris Về Việt Nam

Hiệp định Paris quy định việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, chấm dứt mọi hành động can thiệp quân sự. Các bên cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hiệp định cũng quy định việc trao trả tù binh và giải quyết các vấn đề chính trị thông qua đàm phán.

4.3. Ý Nghĩa Lịch Sử Của Hiệp Định Paris Đối Với Việt Nam

Hiệp định Paris là một thắng lợi lịch sử của Ngoại giao Việt Nam, buộc Hoa Kỳ phải rút quân và chấm dứt chiến tranh. Hiệp định tạo điều kiện cho Thống nhất đất nước vào năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hiệp định Paris là một minh chứng cho sức mạnh của chính nghĩa và tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

V. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Hiệp Định Lịch Sử Việt Nam

Nghiên cứu các hiệp định lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1975 giúp chúng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về Ngoại giao Việt Nam, chiến lược đấu tranh, và xây dựng đất nước. Các bài học này có giá trị to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Theo tài liệu, "Bài học về đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao."

5.1. Kết Hợp Đấu Tranh Quân Sự Và Đấu Tranh Ngoại Giao

Các hiệp định lịch sử cho thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao. Thắng lợi trên chiến trường tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán, và ngược lại, đấu tranh ngoại giao góp phần cô lập kẻ thù và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.

5.2. Kiên Trì Quan Điểm Độc Lập Tự Chủ Trong Ngoại Giao

Ngoại giao Việt Nam luôn kiên trì quan điểm độc lập tự chủ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Chúng ta không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, và luôn tìm kiếm giải pháp hòa bình dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

5.3. Tranh Thủ Sự Ủng Hộ Của Quốc Tế Trong Đấu Tranh

Ngoại giao Việt Nam luôn chú trọng tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là từ các nước xã hội chủ nghĩa và các phong trào giải phóng dân tộc. Sự ủng hộ này có vai trò quan trọng trong việc cô lập kẻ thù và tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh.

VI. Ứng Dụng Nghiên Cứu Hiệp Định Vào Thực Tiễn Ngoại Giao Hiện Nay

Những bài học kinh nghiệm từ các hiệp định lịch sử Việt Nam có giá trị to lớn trong công tác Ngoại giao Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, việc vận dụng sáng tạo những bài học này giúp chúng ta bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

6.1. Vận Dụng Bài Học Về Độc Lập Tự Chủ Trong Ngoại Giao

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, việc kiên trì quan điểm độc lập tự chủ là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần chủ động xây dựng chính sách đối ngoại phù hợp với lợi ích quốc gia và tình hình thế giới.

6.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Để Phát Triển Đất Nước

Hợp tác quốc tế là một yếu tố quan trọng để phát triển đất nước. Chúng ta cần tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, khoa học, và công nghệ.

6.3. Giải Quyết Các Vấn Đề Bằng Biện Pháp Hòa Bình

Trong bối cảnh thế giới có nhiều xung đột, việc giải quyết các vấn đề bằng biện pháp hòa bình là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần chủ động tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình và an ninh khu vực và quốc tế.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân Pháp ở nước ta (1945 – 1954). Trước tình hình đó, Thường vụ trung ương kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Những đơn vị “Nam tiến” được thành lập, nhiều cán bộ được cử vào chi viện cho Nam Bộ. Đối với thế lực của Tưởng, ta chủ trương hòa hoãn, làm cho Tưởng rút quân càng nhanh càng tốt ra khỏi miền Bắc nước ta.

Trong những lần tiếp xúc với các tướng lĩnh của Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu chủ trương “Hoa - Việt thân thiện” và sẵn sàng hợp tác với quân Tưởng trong thời gian làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Bằng sức thuyết phục của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được chúng, từ đó ta khai thác được những điểm khác nhau giữa từng lực lượng trong nội bộ quân Tưởng, giữa tập đoàn quân Tưởng ở Đông Dương và Trùng Khánh, và nhất là giữa quân Tưởng và quân Pháp trong vấn đề Việt Nam - Đông Dương. Với sự hòa hoãn giữa ta và Tưởng đã làm cho Pháp thêm lo sợ và thế lực tay sai của Tưởng, Pháp thêm hoang mang. Tuy lực lượng Việt Quốc, Việt Cách vẫn tìm mọi cách để làm rối loạn xã hội, nhưng với thái độ kiên trì thương lượng của ta nên cuối cùng chúng phải thỏa hiệp với ta để tồn tại.

Để tránh gây trở ngại cho tiền đề giải phóng dân tộc, ta đã cố gắng kiềm chế trước những hành vi cướp bóc, ức hiếp của quân Tưởng đối với nhân dân ta, có những lúc chúng đưa ra những yêu sách mà ta không thể chấp nhân như đòi Nguyễn Hải Thần làm Chủ tịch chính phủ thay thế Hồ Chí Minh, đòi cải tổ Việt Minh, Đề tài nghiên cứu khoa học SV: Hoàng Văn Tuấn Trường Đại Học Thủ Dầu Một 15 GVHD: Nguyễn Thị Kim Ánh thay Quốc kỳ… Tuy nhiên, ta cũng phải nhường cho chúng một số quyền lợi như: nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế quốc hội không qua bầu cử, cho Nguyễn Hải Thần làm phó Chủ tịch, nhường 4 ghế bộ trưởng, nhận tiêu tiền Quan Kim và Quốc Tệ trong lúc đang mất giá, nhận cung cấp lương thực thực phẩm cho cho chúng. Với sách lược đúng đắn ta đã từng bước làm thế lực của Tưởng Giới Thạch và tay sai không thể thực hiện được mục tiêu của chúng trong “Hoa quân nhập Việt”, dù với tư cách Đồng Minh vào nước ta để thực thi quyết định của các nước lớn về Đông Dương. Nước ta cải thiện được vị thế của mình trong quan hệ với lực lượng Đồng minh và các nước lớn. Tóm lại, việc hòa hoãn với Tưởng ta tránh được một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù.

Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 a. Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến Hiệp định Sau hơn năm tháng đánh Pháp ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và hòa hoãn với quân Trung Hoa dân quốc ở miền Bắc, dân tộc ta lại đứng trước một tình thế hết sức phức tạp. Quân Trung Hoa dân quốc ký với Pháp hiệp định Hoa – Pháp (28/2/1946), cho Pháp thay thế ra Bắc giải giáp quân Nhật: “Đây là kết quả mua bán, đổi chác giữa Tưởng và Pháp trên lưng ta. Việc ký hiệp ước còn thể hiện rõ dã tâm của bọn thưc dân Pháp muốn chiếm nước ta một lần nữa”[29;88].

Với Hiệp ước này, việc quân Pháp vào miền Bắc nước ta không còn chỉ là khả năng mà sẽ là hiện thực chắc chắn trước mắt. Cuộc xâm lược của chúng đã được khoác chiếc áo hợp pháp là thay quân Tưởng làm tiếp nhiệm vụ của Đồng minh. Như vậy, trên thực tế quân Đồng minh đã hoàn thành nhiệm vụ giúp thực dân Pháp trở lại Đông Dương. Tình thế đã đặt Nhà nước ta trước hai khả năng cần lựa chọn: hoặc là tiếp tục đánh Pháp, hoặc là thỏa thuận với Pháp, đồng ý việc đưa quân Pháp vào miền Bắc với một số điều kiện của ta.

Khả năng thứ nhất sẽ dẫn đến chiến tranh với hai kẻ thù cùng một lúc. Khả năng thứ hai cũng có nghĩa là chấp nhận nước ta tạm thời trong tình trạng độc lập không hoàn toàn. Để có thời gian xây dựng mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc, cũng như là để duy trì và củng cố thành quả cách mạng vào lúc ta chưa chuẩn bị sẵn sàng khả năng đương đầu bằng quân sự với đối phương, Trung ương Đảng họp (5/3/1946) đã nhất trí tán thành chủ trương “Hòa để tiến” của Ban Thường vụ. Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho sự thỏa thuận giữa ta và Pháp.

Chỉ thị nhấn mạnh: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta” [29; 89]. Tuy đã nhất trí hòa với Pháp là biện pháp tốt nhất với ta lúc này nhưng cũng cân nhắc đến khả năng đánh Pháp là cuối cùng nếu như Pháp không chịu nhân nhượng ta, Đề tài nghiên cứu khoa học SV: Hoàng Văn Tuấn Trường Đại Học Thủ Dầu Một 16 GVHD: Nguyễn Thị Kim Ánh áp đặt tuyên ngôn ngày 24/3/1945 thì nhất định ta phải đánh và có thể là đánh lâu dài theo lối du kích của ta. Nhất trí chủ trương, ngày 6/3/1946 Chính phủ ta ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ để Pháp đưa quân ra tiếp quản miền Bắc thay thế quân Tưởng. Nội dung cơ bản của Hiệp định Nội dung cơ bản của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và văn bản phụ khoản kèm theo Hiệp định bao gồm những điềm chính sau: 1.

Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có Chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng của mình và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương, ở trong khối Liên hiệp Pháp. Việc hợp nhất “Ba kỳ”, Chính phủ Pháp cam kết thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết. Chính phủ Việt Nam chấp nhận để 15000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa. Số quân Pháp kể trên sẽ rút hết trong vòng 5 năm, trừ số quân phụ trách quản lý tù binh Nhật sẽ rút sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Sau khi Hiệp định được ký kết, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí tạm thời. Hai bên đồng ý “Mở ngay cuộc đàm phán (chính thức) thân thiện và thành thực”.Trong cuộc đàm phán đó sẽ bàn ba vấn đề: a. Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài. Chế độ tương lai của Đông Dương.

Những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam. Tình hình nước ta từ sau ngày 6/3/1946 đến năm 1949 1. Hoạt động ngoại giao của Đảng từ sau ngày 6/3/1946 đến ngày 19/12/1946 Mặc dù ta đã ký với Pháp Hiệp định sơ bô, nhường cho chúng những quyền lợi về kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, đế quốc Pháp không chịu thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ, tiếp tục khiêu khích nhiều nơi, những viêc làm này của thực dân Pháp càng thể hiện rõ dã tâm cướp nước ta một lần nữa.

Để cứu vãn tình thế, tranh thủ thêm thời gian hòa bình, kéo dài thời gian hòa hoãn nhằm chuẩn bị thêm cho cuộc kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký thêm với Pháp bản Tạm ước ngày 14/9/1946 với nội dung tương tự nội dung của Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Với việc ký với Pháp bản Tạm ước 14/9/1946, ta đã có khoảng thời gian hơn một năm tương đối hòa bình xây dựng lực lượng về mọi mặt, củng cố chính quyền nhân dân. Mở rộng và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, ổn định đời sống kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng các chiến khu, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu Đề tài nghiên cứu khoa học SV: Hoàng Văn Tuấn Trường Đại Học Thủ Dầu Một 17 GVHD: Nguyễn Thị Kim Ánh dài, mở rộng tuyên truyền trong nước và quốc tế về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Mặc dù đã ký với ta Hiệp định sơ bộ và Tạm ước nhưng thực dân Pháp vẫn tăng cường khiêu khích và gây hấn với ta.

Trước tình thế ta càng nhân nhượng địch càng lấn tới, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (10/1946) nhận định: “Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp” [1; 95]. Hội nghị Thường vụ Trung ương họp ở Vạn Phúc (ngày 17 và 18/12/1946) đã hạ quyết tâm phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Và “Khi Pháp đã cố ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn được thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu” [1; 97]. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946): Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng.

Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng.

Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm! Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ thị của Đảng và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh là cương lĩnh dẫn dắt và tổ chức nhân dân ta trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp. Cùng ngày, các lực lượng vũ trang của ta được lệnh chủ động tiến công trước quân địch, giam chân địch trong thành phố nhằm giúp cho cả nước nhanh chóng chuyển sang thời chiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ