CHƯƠNG 1: DAT VAN DE 1.1 Giới thiệu chung Mô hình hóa thông tin công trình (Building Information Modeling, viết tắt là BIM) đang phát triển và trở thành công cụ chủ đạo của ngành công nghiệp kiến trúc, kỹ thuật và xây dựng vì nó cung cấp các cơ sở để giải quyết được các van dé về giảm chi phí, nâng cao chất lượng. tránh lãng phí và đồng bộ các hoạt động của các dự án. [1] Trên thế giới, nhiều quốc gia như Anh, Mỹ, Úc đã áp dụng BIM thành công ở nhiều mức độ khác nhau, góp phân mang lại lợi nhuận, thúc đây khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như nên công nghiệp xây dựng quốc gia. Theo kinh nghiệm áp dụng BIM trên thế giới, tuỳ thuộc vào mức độ áp dụng BIM trong dự án đầu tư xây dựng có thé giúp dự án tiết kiệm được 5% tới 20% tổng chi phí đầu tư ban đầu và tiết kiệm được tới 30% tong chi phí van hành bao tri trong giai đoạn su dung.[1] Tại Việt Nam, hiện nay BIM chu yếu được triển khai ở các công trình có vốn đầu tư khá lớn, đòi hỏi kĩ thuật cao gôm các công trình có chủ dau tư nước ngoài và công trình theo quy định của nhà nước.Đề thúc day sự phát triển BIM, chính phủ đã xây dựng các kế hoạch, lộ trình thực hiện với các tiêu chuẩn qui chuan bước đầu dua BIM phat triển vượt bật.Mặc dù, hiệu quả của việc áp dụng BIM mang lại là đáng kế nhưng yêu câu thực hiện gặp nhiều rào cản về chính sách, kinh tế, kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực cần thiét.[1] Dé triển khai thành công BIM cần phải thực hiện quá trình đánh giá chỉ tiết và toàn diện từ đó rút ra chiến lược, kế hoạch cụ thé dựa trên tình hình hiện tại của tô chức về sử dụng và các mức độ trưởng thành của BIM để từng bước áp dụng một cách hiệu quả.
Trên thé giới đã có nhiều nghiên cứu của các tổ chức hiệp hội từ các trường học, chính phủ phát triển bộ công cụ đánh giá các khả năng ứng dụng cũng như các cấp độ BIM góp phân giải quyết các vẫn đề khó khăn về cách tiếp cận, đưa BIM phát triển rộng rãi. Tuy nhiên, dé tiễn trình thực hiện BIM có thé phát triển một cách Trang 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Lê Hoài Long hiệu quả cần phát triển BIM toàn diện gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp, đa số các nghiên cứu phát triển đánh giá BIM chủ yếu về mặt kĩ thuật không tổng quát tất cả các khía cạnh. Đặc biệt đối với tình hình BIM vẫn còn là khái niệm mới, chưa được phố biến ở Việt Nam, việc đưa BIM thành một phần của doanh nghiệp gặp rất nhiều rào cản, càng can thiết có những đánh giá khách quan, co bản hon để tiến trình áp dụng BIM trở nên đơn giản, dê thực hiện.2Xác định vấn đề nghiên cứu. Trong thực tế để giải quyết những thách thức trở ngại khi áp dụng BIM, các tổ chức doanh nghiệp trước tiên cần đánh giá các điều kiện hiện tại trong khả năng triển khai BIM để xác định mức độ áp dung từ đó tìm ra các phương pháp cải tiến phù hợp nhất với đặc điểm của doanh nghiệp, tổ chức.
Trên thé giới đã có rất nhiều nghiên cứu phát triển bộ công cụ đánh giá các năng lực cũng như các cấp độ trưởng thành BIM.Tuy nhiên, để tiến trình thực hiện BIM có thé phát triển một cách hiệu quả can phát triển BIM toàn diện gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp|40].Các bộ công cụ này được xây dựng với các chức năng đánh giá đa dạng dành cho cá nhân, doanh nghiệp, cho dự án, chủ đầu tư với các cấp độ khác nhau và mỗi công cụ có điểm mạnh riêng. Hiện nay, vẫn không có công cụ đánh giá nào có thể đo lường toàn diện độ trưởng thành BIM trên phương diện kĩ thuật về mô hình cũng như tổ chức [10],[34]. Trong điều kiện Việt Nam hầu như chưa có nghiên cứu nào xác định bộ công cụ đánh giá khả năng áp dụng BIM cho doanh nghiệp xây dựng, nghiên cứu sẽ phát triển bộ công cụ dựa trên tiên đề tong quan các bộ công cụ đã có kết hợp các mô hình đánh giá tổ chức để xây dựng bộ công cụ đánh giá khả năng áp dụng BIM cho các doanh nghiệp xây dựng mang tính toàn diện.3 Các mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu của đê tài là đề xuât xây dựng bộ công cụ đánh giá khả năng áp dụng BIM cho doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam.
Trang 5 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Lê Hoài Long Bộ công cụ sẽ xác định vi trí, các kha năng hiện có của doanh nghiệp. Từ đó tạo tiền đề cơ sở để doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch, lộ trình BIM cho phù hợp với tình hình thực tế, hạn chế được các khó khăn sẽ gặp phải. Bộ công cụ gồm hệ thông các yếu tố đại diện đánh giá kha năng áp dụng BIM của doanh nghiệp xây dựng và thang đánh giá. Hệ thống các yếu tổ đại diện đánh giá khả năng áp dụng BIM của doanh nghiệp xây dựng.
Xác định các yếu tô đại diện khả năng áp dụng BIM được tổng hợp từ các nghiên cứu các bộ công cụ đánh giá trước.Kết hop với các mô hình đánh giá tổ chức toàn diện từ đó xây dựng một mô hình hệ thống từ các hạng mục tong thé dén phan chia cac cap bac cac yếu tố đại diện sao cho thể hiện được toàn diện các khía cạnh liên quan đến BIM của tổ chức. Thang đánh giá. Xây dựng thang đánh giá có mức độ phù hợp với tình hình áp dụng BIM ở Việt Nam, có thé cham diễm cho từng phan tử xác dinh cho các tổ chức tốt nhất và đơn giản dễ sử dụng.Một hướng dẫn đánh giá giải thích cách thức sử dụng bộ công cụ được đề xuất để nâng cao độ chính xác của thang đo với các thông tin thu thập cần thiết.4Phạm vỉ nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đang chuẩn bị và đã sử dụng BIM ở Việt Nam. Với quy mô của dé tài thạc sĩ vì điều kiện và nguồn lực, nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi sử dụng bộ công cụ tiến hành đánh giá thử nghiệm ở một số doanh nghiệp xây dung.Dé đảm bảo van dé bảo mật thông tin các doanh nghiệp, luận văn sẽ chỉ đưa ra tên đại diện cho doanh nghiệp X, Y, Z.
Trang 6 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Lê Hoài Long Khảo sát các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng từ nhiều đơn vị khác nhau, có kinh nghiệm sử dụng BIM để xác định độ phù hợp bộ công cụ và thu thập ý kiến đóng góp dé phát triển hoàn thiện bộ công cụ. Pham vi thời gian nghiên cứu Thời điểm dự định thu thập dữ liệu: từ các doanh nghiệp xây dựng sử dụng BIM và một số dữ liệu liên quan khác được thu thập từ các nghiên cứu trước được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2018. Phạm vi không gian nghiên cứu Vì các khó khăn trong việc tiếp cận và yêu cầu đảm bảo tính bảo mật của doanh nghiệp.Nghiên cứu chỉ tiễn hành thử nghiệm một số doanh nghiệp tiêu biểu dang áp dụng BIM có trụ sở ở thành phố Hồ Chí Minh.5 Dong góp của nghiên cứu Với mục tiêu nghiên cứu như trên, kết quả thu được khi xây dựng một bộ công cụ đánh giá sẽ góp phan thúc day sự phát triển của BIM một cách cụ thé và đồng bộ hơn. Bộ công cụ đánh giá sẽ là tiền đề giúp các doanh nghiệp có thể xác định vị trí các tiém lực hiện có.Từ đó doanh nghiệp có cơ sở xác định rõ các thế mạnh, điểm yếu và tận dụng cũng như cải thiện các nguồn lực hiện có một cách hiệu quả nhất, đưa BIM trở thành một bộ phận xuyên suốt và đồng bộ với tất cả các hoạt đông khác của doanh nghiệp.Bộ công cụ cũng góp phan giúp các chủ dau tư có đánh giá toàn diện hơn khi lựa chọn nhà thầu.
tư vẫn có năng lực tốt nhất cho dự án của mình. Bên cạnh đó, nếu kết hợp bộ công cụ đánh giá với các lộ trình hướng dẫn phát triển BIM, cơ quan nhà nước có thể tạo ra bước đệm đồng bộ hóa băng thang đo xác định, tạo động lực phát triển trong việc hỗ trợ giúp đỡ các doanh nghiệp phát triển và quản lý có hiệu quả các hoạt đông BIM trong ngành xây dựng. Trang 7 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Lê Hoài Long CHƯƠNG 2: TONG QUAN 2.1 Các khái niệm chung về BIM 2.1 Định nghĩa Có rất nhiều định nghĩa về BIM, dưới đây là một số khái niệm phát triển: “Mô hình hóa thông tin công trình là một quá trình thiết lập và quản lý thông tin của một dự án xây dựng trên toàn bộ vòng đời của dự án.Một trong những đầu ra chính của quá trình này là Mô hình thông tin tòa nhà giúp mô tả thông tin kỹ thuật số về mọi khía cạnh xây dựng.Mô hình này dựa trên thông tin được tập hợp cộng tác và cập nhật ở các giai đoạn chính của dự án.Thiết lập Mô hình thông tin kỹ thuật số của tòa nhà cho phép những người tương tác với tòa nhà tối ưu hóa hành động của họ, kết quả toàn bộ giá trị vòng đời dự án tốt hơn cho người sở hữu. [57] BIM là “Một cách tiếp cận mới dé thiết kế, xây dựng và quản lý cơ sở, trong đó một đại diện kỹ thuật số của quá trình xây dựng được sử dụng để tạo điều kiện trao đổi và khả năng tương tác của thông tin ở định dạng kỹ thuật số” theo Eastman và các tác giả khác 2008.
[10] BIM là đại diện kĩ thuật số các đặc tính vật lý và chức năng của một công trình.Như vậy nó phục vụ như một nguồn tài nguyên tri thức chia sẻ thông tin về công trình tạo nên tang đáng tin cậy cho các quyết định trong vòng đời từ lúc bat đầu đến khi phá hủy (National BIM Standard-United States).2 Kha nang BIM La kha nang co ban dé thực hiện một nhiệm vu, cung cấp một dịch vụ hoặc tạo ra một sản phẩm BIM.Các giai đoạn khả năng BIM xác định các yêu cầu BIM tối thiéu.Cac giai đoạn kha năng BIM được xác định bởi các cột mốc quan trọng được các tô chức đạt được khi họ áp dụng các công nghệ và khái niệm BIM. [12] Các giai đoạn BIM xác định bởi điểm khởi đầu (trạng thái trước khi triển khai BIM), và ba giai đoạn BIM cô định: Trang 8 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.