MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VAN DE Cây bơ (Persea americana Mill.) là loại cây ăn quả lâu năm, có yêu cầu sinh thái phù hợp với vùng Tây Nguyên. Bo là một trong những loài quả quí, có giá tri xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới. Thành phần dinh dưỡng của quả bơ cao hơn nhiều so với nhiều loại quả khác, nhất là về mặt calo, protein, các chất muối khoáng và nhiều loại vitamin. Vùng Tây Nguyên rất phong phú về nhiều chủng loại cây ăn quả như: Bơ, sầu riêng, măng cụt, hồng.
Trong đó, bơ được xem là một trong những loại quả đặc sản của vùng Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng. Thế nhưng, qua bơ ở nước ta chủ yếu tiêu thụ nội địa, chưa có đủ điều kiện xuất khẩu vì những lý do sau: - Việc trồng bơ còn mang tính tự phát, chủ yếu ở vườn gia đình, chưa có điều kiện phát triển qui mô lớn mang tính sản xuất hàng hóa. - Chất lượng chưa cao và không đồng đều. - Quả bơ nhanh hư hỏng, khó bảo quản.
- Chưa có công nghệ chế biến qua bơ sau thu hoạch. Trong những năm gần đây việc trồng bơ đã mang lại những lợi nhuận đáng kể. Do đó, ngoài việc đây mạnh phát triển các loại cây công nghiệp, cây lương thực thực phẩm thì việc mở rộng phát triển các loại cây ăn quả nói chung và cây bơ nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt. Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy dòng bo tốt là van dé cần thiết hiện nay.
Trên cơ sở đó dé bảo tồn những dòng bơ có năng suất cao, phâm chat tốt phù hợp thị hiéu người tiêu dung cũng như đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Đồng thời tuyên chọn những cây đầu dòng làm vật liệu khởi đầu trong công tác nhân giống. Đề tài: “ Bình tuyển một số giống bơ (Persea americana Mill.) trồng ở tỉnh Lâm Đồng và nghiên cứu ghép nam dòng bơ tuyển chọn ” nhằm giải quyết những yêu cầu thực tiễn đặt ra.2 MỤC TIỂU - YÊU CAU CUA DE TÀI 1.1 Mục tiêu - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và phâm chất của các nhóm giống bơ nhằm tuyên chọn các cá thé ưu tú có năng suất cao, pham chat tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên của Lâm Đồng. - Tiến hành một số thí nghiệm ghép bơ dé xác định: Gốc ghép, thời vụ ghép, kiểu ghép, loại cảnh ghép thích hợp trong 5 giống bơ đã bình tuyển được.2 Yêu cầu - Thu thập các số liệu điều kiện tự nhiên: Địa hình, đất đai, khí hậu của Lâm Đồng so sánh các điều kiện này với yêu cầu sinh thái của cây bơ.
- Tìm hiểu hiện trạng về một số biện pháp kỹ thuật trồng bơ tại Lâm Đồng. - Điều tra phân nhóm bơ theo hình dang quả và đánh giá các dang bơ. - Tổ chức hội thi tuyển chọn cây đầu dòng. - Xác định tỷ lệ sống và sự tăng trưởng của cây bơ ghép trên các gốc ghép, thời vụ ghép, kiểu ghép và loại cành ghép khác nhau.3 GIỚI HẠN ĐÈ TÀI - Cây bơ là loại cây ăn quả lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài.
Nhưng do thời gian thực tập có hạn, nên chỉ điều tra nghiên cứu ở một số vùng trọng điểm và đánh giá một số dang bơ thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và phẩm chat. Chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu về một số loài sâu bệnh và biện pháp phòng trừ, chế độ bón phân, liều lượng và thời kỳ bón cho từng giống bơ ở từng độ tuôi khác nhau. - Trong thực tế cây bơ chủ yếu phát triển trong vườn gia đình, nên việc điều tra theo dõi một số chỉ tiêu gặp không ít khó khăn. Mặt khác, đây là một đề tài mới, tài liệu tham khảo còn ít, nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 GIÁ TRI KINH TE, NGUON GÓC PHAN BO 2.1 Giá trị kinh tế Trong các loại cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới, bơ đứng vào hạng thứ 5 về số lượng theo thống kê của FAO. Tập trung ở các nước châu Mỹ về mặt tiêu thụ, các nước phát trién có nhu cầu ngày càng tăng đối với mặt hàng ngày càng quen thuộc này. Thành phần dinh dưỡng của quả bơ cao hơn nhiều loại cây khác, nhất là về mặt calo, protein, bơ là thực phẩm lý tưởng cho người bị bệnh tiêu đường. Hàm lượng các chất dầu thực vật trong quả bơ rất cao (3% - 30%) và cơ thể con người có thể hấp thụ đến 92 §%.
Quả bơ là loại quả cây được dùng làm salad tốt nhất, rất nhiều vitamin (A, B, C, E.) và chất khoáng (sắt, magiê, kali). Theo Purseglove (1968), quả bơ giàu dinh dưỡng nhất trong tất cả loại quả cây, là nguồn thực phẩm tốt cho trẻ em và người ăn kiêng, làm giảm LDL- cholesterol có hại, giảm stress. Trong công nghiệp dầu quả bơ là loại dầu cao cấp, dùng làm mỹ phẩm rất ưa chuộng vì trong dầu quả bơ chứa nhiều Phytosterine có tác dụng nuôi dưỡng da nên dùng để chế biến kem dưỡng da, kem chống nắng, dùng làm dầu gội đầu chống rụng tóc và làm mướt tóc. Ngoài ra dầu quả bơ còn được sử dụng nhiều trong được phẩm.
Người ta cho rằng phần lớn cây bơ được đem trồng sang các nước khác chủ yếu do người Tây Ban Nha. Từ đó mà cây bơ phát triển khắp nơi trên thế giới, nhất là các nước nhiệt đới và 4 nhiệt đới. Chung Mexico được xếp vào loài Persea drymyfolia Mill Theo Tôn Thất Trình (2000), đặc tính của 3 chủng loại bơ quan trọng: + Ching Mexico: Lá thay đổi nhiều về kích thước, lá có màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn mặt trên, đặc biệt khi vò lá có mùi hôi anique. Quả thường dài dạng quả lê, dạng đu đủ.
Chất lượng rất tốt do hàm lượng chất béo rất cao: 15% - 30% (trên thị trường Việt Nam gọi là bơ sáp). Vỏ quả mỏng, thường trơn tru, khi chín có màu xanh, vàng xanh, hay đỏ tím tùy giống. Hạt hơi lớn, vỏ hạt mỏng, mặt ngoài hạt trơn láng, khi chín hạt nằm lỏng trong lòng quả, nhưng lắc không kêu. Thời gian từ khi ra hoa đến lúc qua chín thường từ 8-9 tháng.
Day là chủng bơ có chất lượng cao nhất và có đặc tính chịu rét tốt nhất. - Giống Mexicola: Dạng quả lê, quả nhỏ, nặng 60 - 150g, vỏ mỏng, da có màu nâu đen, là một trong những giống bơ có hương vị thơm ngon. Hột lớn màu vàng, vỏ hột dính liền với hột. Thịt màu vàng xanh.
Cây cho nhiều quả và cho quả Sớm. - Giống Carton: Quả hình tròn, det ở đáy qua, quả nhỏ. Nang trung bình 200 - 250g. Da màu tím hơi đen, vỏ có lốm đốm màu xám.
Hột có màu hồng, VỎ hột cứng. Thịt màu vàng xanh. - Giống Winter Mexican: Dạng quả lê, vỏ láng mỏng, khi chín có đốm xanh lơ. Quả nặng trung bình 300 - 375g.
Thịt nhão chat dau. - Giống Bacon: Dạng cây cỡ trung bình, cành dựng đứng. Quả cỡ trung bình, vỏ mỏng, da xanh láng. Thịt màu vàng xanh.
Cây chống chịu sương giá tốt. Cây sớm cho quả. - Giống Duke: Cây mọc mạnh, tàn cây to lớn. Quả cở trung bình, phẩm chất ngon.
Da quả láng, màu xanh hơi vàng, vỏ mỏng. Đây là giống thường được dùng làm gốc ghép do kháng bệnh thối rễ do Phytophthora. Cây chống chịu gió rét tốt. - Giống Zutano: Cây mọc mạnh, có xu hướng mọc cao và cho năng suất ồn định.
Quả cở trung bình, vỏ mỏng, da xanh sam, láng, pham chat khá. + Chủng Guatemala: lá có màu xanh đậm hơn chủng Mexico và chủng Antilles, khi vò lá không có mùi hôi. Dot non màu đỏ tối. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc quả chín thường từ 9-12 tháng.
Quả nhiều, cuống quả dài, vỏ hơi dày và có sé gỗ. Da quả thường san sùi. Hạt nhỏ và nằm sát trong lòng quả. Thịt quả day cơm, có hàm lượng dầu béo 10-15%.
Mặt ngoài hạt láng hoặc trơn láng. Chủng này có sức chong chịu rét khá tốt. - Giống Hass: Cây mọc mạnh có xu hướng phát triển chiều cao. Quả cỡ trung bình, da đỏ sậm láng mịn và dày.
Thịt màu vàng kem, hương vị thơm ngon. Giống này mãn cảm với sự thay đổi thời tiết, tuy nhiên là giống bơ được ưa chuộng nhất trên thị trường. - Giống Reed: Tán cây dạng thuôn thăng đứng. Quả tròn, cỡ trung bình đến rất to.
Thịt quả màu vàng bơ, mịn. - Giống Rilcon: Dạng cây có tán trung bình không phát triển lớn lắm. Quả nhỏ, vỏ dày và hương vi đậm da. - Giống Thilke: Tán cây phát triển rất mạnh.
Quả chín có vỏ xanh cỡ vừa đến lớn, vỏ dày, hương vi thơm ngon. - Giống Wurtz: Giống cây thấp nhất so với các giống khác. Cành thấp, tỏa rộng. Quả cỡ trung bình da màu xanh, phẩm chất ngon.
Trên thị trường được xem như loại bơ kiêng trồng trong chậu. - Giống Taylor: Dạng quả lê từ cỡ nhỏ đến cỡ vừa nặng từ 330 - 500 gram. Da xanh đậm vỏ san sùi. Thịt quả mau hơi vàng chứa 12 - 17 % chất dầu thực vật.
Hạt cỡ vừa sát lòng quả. Cây mọc mạnh có quả sớm, chịu lạnh, có khuynh hướng mọc cao nên phải tạo tán khi còn nhỏ. Cây có quả phân bố khắp cây và rời rạc, năng suất kém. - Giống Tonnage: Có nguồn gốc từ giống Taylor.
Hạt được đem trồng từ năm 1916 đến 1921 thì có quả. Quả có hình quả lê và có cuống quả nằm xiên với trục thắng đứng qua quả. Quả cỡ vừa đến cỡ lớn, nặng từ 350 - 670 gram. Vỏ dày, da xanh đậm.
Thịt màu vàng nhạt rất ngon, chứa 8 - 10% chất dầu. Hột nhỏ và hơi dính sát trong lòng quá. Cây mọc mạnh có xu hướng mọc cao. - Giống Queen: Quả hình qua bau, da xanh nhạt và san sùi.
Vỏ dày và cứng, quả nặng 400- 500 gram. Thịt nhiều chất dầu và rất ngon. Cây cho năng suất rất cao. - Giống Nabal: Quả hình hơi tròn, da màu xanh nhạt.
Vỏ dày cứng, có nhiều đốm vàng trên da. Quả nặng từ 400 - 500 gram. Thịt rất ngon nhưng năng suất kém. - Giống Linda: Quả có hình tròn, nặng từ 450 - 500 gram.
Da có màu đỏ sam khi chín. Hột nhỏ, tròn, vỏ hột dày nhưng không dính chặt với hột. + Chủng Antilles: có lá to, lá thường có màu sắc gần như đồng đều ở hai mặt lá, khi vò nát lá ngửi không thấy mùi vị gì cả. Thời gian trổ hoa đến lúc quả chín thường từ 6-9 tháng.
Quả thường to, có quả rất to, cuống quả ngắn. Vỏ quả hơi ngắn và dai, dày trung bình 0,8-1,5mm. Da quả có màu xanh và khi chín thì đổi sang màu xanh hơi vàng.