phần Mở đầu và kết thúc với Kết luận và kiến nghị. Ở giữa sẽ là 3 chương chính gồm: Tổng quan tài liệu, Thực nghiệm; Kết quả và thảo luận. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về zeolite ZSM-5 và phương pháp biến tính 1.
Tổng quan về zeolite ZSM-5 1. Giới thiệu về zeolite ZSM-5 Zeolite ZSM-5 (Zeolite Socony MobilFive) là loại zeolite giàu Si được tổng hợp đầu tiên vào năm 1972 bởi Argauer và Zadolt (hai nhà nghiên cứu thuộc hãng Mobil Oil). Đây là loại zeolite thuộc họ pentasil, có mã cấu trúc quốc tế là MFI. Loại zeolite này có cấu trúc vòng SBU 5-1, với kiểu đối xứng orthorhombic, nhóm không gian Pnma.
Hệ thống mao quản trong zeolite ZSM-5 ba chiều với cửa sổ vòng 10 oxy, đường kính mao quản trung bình xấp xỉ 5,5 Å thuộc nhóm zeolite có mao quản trung bình [1]. Công thức hóa học: NanAlnSi96-nO192. Cấu trúc của zeolite ZSM-5 Mạng tinh thể chứa các tứ diện TO4 (T là Si, Al nằm ở tâm tứ diện) Hình 1. Đơn vị cấu trúc sơ cấp của zeolite [42] 6 Hình 1.
Một số đơn vị cấu trúc thứ cấp (SBU) trong zeolite [41] Hình 1. Các đơn vị cấu trúc và cách ghép nối tạo zeolite có cấu trúc khác nhau [42] 7 Hình 1. Cấu trúc zeolite ZSM-5 [43 - 44] Zeolite ZSM-5 có hai hệ thống mao quản giao nhau, những mao quản theo hướng thẳng đứng trong mặt cắt ngang có kích thước 5,3÷5,6 Å, còn những mao quản theo hướng nằm ngang theo mô hình zig-zag trong mặt cắt ngang có kích thước 5,1÷5,5 Å. Hệ thống mao quản của ZSM-5 [45 – 46] Nhìn chung hệ thống mao quản zeolite ZSM-5 có dạng elip và cả hai loại mao quản đều được hình thành từ những vòng 10 nguyên tử oxy.
Cấu trúc mao quản ZSM-5 với vòng 10 nguyên tử oxy [42] 1. Tính chất của zeolite ZSM-5 Nhiều tính chất của zeolite ZSM-5 thay đổi theo tỉ số Si/Al. Ví dụ như tính chất trao đổi ion và tính chất xúc tác. Các tính chất đó hầu như thay đổi như tuyến tính với hàm lượng nhôm: Dung lượng trao đổi ion và hoạt tính tăng theo hàm lượng nhôm.
Các cấu trúc vật lý như: Cấu trúc tinh thể, thể tích nano quản, mật độ mạng… không phụ thuộc vào tỉ số Si/Al [40]. Tính chất trao đổi cation Các cation bù trừ diện tích khung trong zeolite rất linh hoạt vì vậy chúng có thể thay thế bởi các cation khác bằng trao đổi ion. Khả năng trao đổi cation của zeolite phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Bản chất, kích thước trạng thái và diện tích cation trao đổi; - Nhiệt độ trao đổi; - Nồng độ của loại cation trong dung dịch trao đổi; - Loại ion liên kết với cation trong dung dịch trao đổi; - Dung môi (sự trao đổi thực hiện chủ yếu trong dung môi là nước, chỉ một số yếu tố sử dụng dung môi hữu cơ); - Đặc tính của cấu trúc zeolite; - Độ pH của dung dịch trao đổi. 9 Dung lượng cation trao đổi trong zeolite liên quan trực tiếp đến hàm lượng nhôm trong tinh thể.
Nó tăng khi hàm lượng nhôm tăng vì số cation bù trừ diện tính tăng. Quá trình trao đổi có thể được thể hiện ở dưới dạng sau: Trong đó: ZA và ZB lần lượt là diện tích cation trao đổi A, B (z), (s) là chỉ số của cation trong zeolite và ứng dụng tương ứng. Sự trao đổi cation trong zeolite dẫn đến sự thay đổi độ bền, tính chất hấp phụ, độ chọn lọc, hoạt tính xúc tác và các tính chất quan trọng khác. Tính chất trao đổi ion làm mềm nước, tách ion NH4+ từ nước thải công nghiệp và tách lọc các phóng xạ từ các vật liệu thải phóng xạ.
Tính chất hấp phụ Do có cấu trúc xốp, hệ mao quản có cấu trúc đồng đều, ZSM-5 chỉ cho phép những phân tích có hình dạng, kích thước phù hợp đi qua, nên zeolite được sử dụng để tách các hỗn hợp lỏng, khí và hơi. Các zeolite dehydrat có diện tích bề mặt bên trong chiếm tới 90% diện tích bề mặt tổng, nên phần lớn khả năng hấp phụ là nhờ hệ thống mao quản. Bề mặt ngoài của zeolite không lớn, nên khả năng hấp phụ bề mặt ngoài là không đáng kể [4]. Sự hấp phụ của zeolite có các đặc điểm sau: - Lực hấp phụ là do tương tác giữa các phân tử chất bị hấp phụ với bề mặt bao gồm cả bề mặt bên ngoài và ngoài của zeolite dehydrat hóa.
- Lượng khí hoặc chất lỏng được hấp phụ phụ thuộc vào áp suất, nhiệt độ, bản chất của khí và bản chất bề mặt của zeolite. Zeolite có khả năng hấp phụ chọn lọc. Tính chất chọn lọc, xuất phát từ hai yếu tố chính: - Kích thước cửa sổ mao quản của zeolite dehydrat chỉ cho phép lọt qua những phân tử có hình dạng, kích thước phù hợp. Lợi dụng tính chất này 10 người ta có thể xác định kích thước mao quản theo kích thước phân tử bị hấp phụ hoặc chất không bị hấp phụ ở điều kiện nhất định.
- Năng lượng tương tác giữa trường tĩnh điện của zeolite với các phân tử momen lưỡng cực. Điều này liên quan đến độ phân cực của bề mặt và các chất bị hấp phụ. Bề mặt càng phân cực hấp phụ càng tốt chất phân cực và ngược lại bề mặt không phân cực hấp phụ tốt chất không phân cực. Do đó, có thể thay đổi khả năng hấp phụ chọn lọc đối với phân tử một chất cần hấp phụ bằng cách thay đổi các yếu tố: + Thay đổi năng lượng tương tác giữa chất hấp phụ và chất hấp phụ bằng cách cho chất hấp phụ một lượng nhỏ chất bị hấp phụ thích hợp trước đó; + Thay đổi kích thước cửa mao quản, khả năng phân cực của chất bị hấp phụ bằng cách trao đổi ion; + Giảm tương tác tĩnh điện của zeolite với phân tử chất bị hấp phụ bằng cách tách hoàn toàn cation ra khỏi zeolite như: Phân hủy nhiệt zeolite đã trao đổi NH4+, xử lý axit… Năm 1984, A.
Ann Mines đã thấy rằng tinh thể zeolite có thể hấp phụ thuận nghịch mà không bị biến đổi về cấu trúc hình học cũng như độ tinh khiết [9] Theo Mc Bain và cộng sự [19] thì pha bị hấp phụ không thay đổi các cấu tử nén cấu trúc tinh thể, nó chỉ khuếch tán vào bề mặt trong mao quản và nằm lại ở đó nếu kích thước phù hợp mao quản. Sự khuếch tán trong tinh thể zeolite có thể là một chiều, hai chiều hay ba chiều. Quá trình khuếch tán và tách nước có thể dẫn đến khả năng cation bị giữ lại trong thành hay trong các chỗ giao nhau của mao quản, cản trở sự khuếch tán của các phân tử tiếp theo. Vì vậy, khả năng khuếch tán thực tế hơn so với tính toán.
Lượng chất lỏng hay khí được hấp phụ bởi chất rắn phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất, bản chất lấp đầy chất hấp phụ và chất bị hấp phụ. Khi các mao quản dehydrat bị lấp đầy chất hấp phụ, thì không xảy ra sự hấp 11 phụ nữa. Như vậy, zeolite là chất hấp phụ có dung lượng lớn, độ chọn lọc cao. Do đó người sử dụng nó để tách và làm sạch parafin, làm khô khí, tách oxy từ không khí, tách CO2, SO2, H2S… từ khí tự nhiên và khí dầu mỏ…[15] Tính chất xúc tác của zeolite Ngoài tính chất trao đổi ion, hấp phụ… zeolite còn có tính chất xúc tác cho các phản ứng chuyển hóa hydrocacbon hoặc làm chất mang rất hiểu quả.
Zeolite có tính acid là do đặc điểm cấu trúc đặc biệt và thành phần hóa học của nó. Như đã trình bày trong phần cấu trúc, mỗi tâm tứ diện AlO4 mang một diện tích âm được trung hòa bằng cation hóa trị I thường là Na+. Khi thay thế ion Na+ này bằng cation khác sẽ làm xuất hiện proton trong zeolite. Trong zeolite tồn tại hai loại tâm acid là tâm Brosnted (tâm cho H+) và tâm Lewis (tâm nhận electron).
Nhờ tính chất này mà zeolite được ứng dụng trong các phản ứng xúc tác xảy ra theo cơ chế cacboncation như cracking, polyme hóa, izome hóa, alkyl hóa. Tâm acid Bronsted: Các nhóm hydroxyl chính là nguồn cung cấp proton chủ yếu để tạo nên các tâm Bronsted. Các nhóm OH hình thành trong quá trình phân giải các ion amoni hoặc tạo ra proton liên kết với các nguyên tử oxy của cấu trúc mạng lưới, hoặc do sự phân ly của các phân tử nước hấp thụ bởi trường tĩnh điện của các cation trao đổi đa hóa trị. Theo Richrdsons [30] và Breck D.W [4] thì tâm Bronsted có thể được hình thành do những nguyên nhân sau đây: + Với các zeolite không bền trong môi trường acid như X, A, Y… thì các tâm Bronsted có thể được tạo ra do sự phân hủy nhiệt của zeolite đã trao đổi ion với dung dịch muối amoni như: 12 + Mordenit, ZSM-5… nhóm OH được tạo thành bằng cách trao đổi trực tiếp với acid.
+ Với zeolite chứa cation bù trừ diện tích là cation đa hóa trị thì nhóm OH cấu trúc được tạo ra bằng cách thủy phân (hydrolysis) ở nhiệt độ cao: Ở nhiệt độ cao proton tự do tác dụng với oxy của mạng cho nhóm OH, điều kiện này đã được chứng minh bằng phổ hồng ngoại. + Khử ion kim loại chuyển tiếp bằng hydyro: Mn+ là cation kim loại chuyển tiếp như: Fe, Cu, Co… + Khử các zeolite này là xúc tác lưỡng chức, mang cả chức acid và chức kim loại (để đóng vòng mạch hydrocacbon). Vì vậy, ngoài chức năng xúc tác với tâm axit cho quá trình cracking xúc tác, zeolite còn ứng dụng hiệu quả cho các quá trình refoming xúc tác, isome hóa các hợp chất thơm… Tâm Lewis [1]: Các tâm này được hình thành từ quá trình tách nhóm hydroxyl của zeolite khi xử lý nhiệt: 13 Ở nhiệt độ cao (>400oC), trước hết xảy ra quá trình di chuyển proton, sau đó tách hydroxyl cấu trúc ra dưới dạng H2O, theo chu trình sau: - Tính chất chọn lọc hình học của zeolite [1]; Tính chất xúc tác của zeolite không những dựa trên tính axit mà còn liên quan đến tính chọn lọc hình dạng của chúng. Tính chọn lọc hình dạng xuất phát từ khả năng hạn chế kích thước và hình dạng các phân tử khuếch tán vào và ra khỏi kênh mao quản của zeolite.
Người ta đã phân biệt ba hình thức chọn lọc hình dạng như sau: + Chọn lọc hình dạng đối với chất tham gia phản ứng; + Chọn lọc các trạng thái trung gian; + Chọn lọc các sản phẩm tạo thành.