MỞ ĐẦU Thuốc kháng sinh và thuốc kháng viêm mặc dù có tác dụng điều trị các bệnh lý viêm nhiễm, nhất là nhiễm trùng đường hô hấp, tai mũi họng, đường tiết niệu.Tuy nhiên, chúng lại rất nguy hiểm nếu không được sử dụng đúng mục đích và chỉ định. Bên cạnh đó, kháng kháng sinh là mối đe dọa sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của người dân và sự phát triển bền vững của cả một quốc gia. Theo Đại học Oxford, kháng kháng sinh là nguyên nhân khiến 1,5 triệu người tử vong mỗi năm. Dự báo, đến năm 2050, mỗi năm sẽ có tới 10 triệu người tử vong mà nguyên nhân có thể là do thuốc kháng sinh không còn ngăn ngừa hiệu quả các bệnh thông thường.
WHO xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Theo số liệu của WHO, từ năm 2009 đến năm 2017, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng tăng gấp 2 lần. Nguyên nhân chính là do lạm dụng kháng sinh bán ra mà không cần kê đơn, trong đó thuốc kháng sinh bán ra tại thành thị khoảng 88% và tỉ lệ này lên đến 91% bán ra ở nông thôn [253]. Mặt khác, chất kháng sinh và kháng viêm còn được dùng để trị một số bệnh nhiễm khuẩn trong nuôi trồng thủy sản.
Yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm nói chung hay trong các mặt hàng thủy sản nói riêng ngày càng được chú trọng. Nếu dư lượng trong sản phẩm vượt quá mức cho phép, việc tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp nhiều khó khăn thậm chí không tiêu thụ được gây thiệt hại về kinh tế và an sinh xã hội là rất đáng kể. Chính vì vậy, các nhà khoa học đã và đang phát triển các phương pháp phân tích hiện đại để phân tích kháng viêm – kháng sinh trong dược phẩm, thực phẩm và môi trường nước. Hiện nay, các phương pháp như sắc ký lỏng hiệu năng cao (High Performance Liquid Chromatographic, HPLC) [6], [101], [162], [165]; sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép khối phổ (High Performance Liquid Chromatographic–tandem Mass Spectrometry, HPLC–MS/MS) [175], [222]; sắc ký lỏng ghép khối phổ (Liquid Chromatography–tandem Mass Spectrometry, LC–MS/MS) [9], [84], [113], [172]; phương pháp phân tích quang phổ (Spectrophotometric) [51], [97] và điện di mao quản [137].
Mặc dù các phương pháp này thu được kết quả đáng tin cậy và chính xác, nhưng 1 có nhược điểm như chi phí cao của các thiết bị, quy trình chuẩn bị mẫu tốn nhiều thời gian và thao tác phức tạp, tiêu thụ nhiều thuốc thử và dung môi dẫn đến có thể hạn chế việc áp dụng các phương pháp này. Vì vậy, trong những năm gần đây phương pháp điện hóa đã hoàn thiện và phát triển. Graphene và các vật liệu mới trên cơ sở graphene đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công nghệ như: lưu trữ năng lượng, vật liệu hấp phụ xúc tác, vật liệu xử lý môi trường, điện tử và đặc biệt là vật liệu sensor khí và điện hóa,. Bắt đầu từ vật liệu graphene oxide (GO), sự phát triển của các loại hợp chất lai tạp (composite) khác nhau trong đó các kim loại, oxide kim loại, khung kim loại-hữu cơ, phối tử hữu cơ và các loại polymer đã được kết hợp với GO.
Để ứng dụng vật liệu trên nền graphene oxide trong phân tích điện hóa, cần phải hoạt hóa một số nhóm chức chứa oxy của GO để chuyển thành graphene oxide dạng khử (rGO). Ngoài ra, GO kết hợp với MnO2 và AgNPs để chế tạo điện cực biến tính được sử dụng trong phương pháp von-ampe có khả năng phân tích được một số chất kháng sinh, kháng viêm. MnO2 với nhiều hóa trị, đã thu hút sự quan tâm đối với các ứng dụng xúc tác và hiệu quả cao trong quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi. Tuy nhiên, MnO2 có tính dẫn điện kém và diện tích bề mặt thấp.
Khi kết hợp với MnO2, các tấm nano GO sẽ làm tăng diện tích bề mặt hoạt động điện hóa và cải thiện hoạt động xúc tác [238]. Vật liệu composite giữa MnO2 và một số dạng của graphene được sử dụng để biến tính điện cực than thủy tinh xác định đồng thời dopamine và uric acid [117], hydrogen peroxide [63], và một số chất màu thực phẩm, rhodamine B [75], sunset yellow [42], quinoline yellow [223]. và cộng sự đã sử dụng vật liệu composite MnO2/GO [201] và Pam A. đã sử dụng MnO2/GO và Ag/GO để xác định hydrazine và arsenic [157].
Mặt khác, trong các tài liệu tham khảo được chưa thấy nghiên cứu nào xác định đồng thời CAP và TNZ bằng vật liệu composite, bên cạnh đó graphene oxide có mặt MnO2 và vật liệu AgNPs/MnO2 chỉ mới bước đầu ứng dụng trong vật liệu lưu trữ năng lượng. 2 Xuất phát từ những yếu tố đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu biến tính điện cực trên cơ sở graphene oxide dạng khử để xác định một số chất kháng sinh và kháng viêm bằng phương pháp von-ampe”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: phát triển điện cực biến tính trên nền graphene oxide dạng khử để xác định đồng thời các chất kháng sinh và kháng viêm bằng phương pháp von–ampe. Mục tiêu cụ thể: xuất phát từ những vấn đề nêu trên, mục tiêu cụ thể đặt ra là: - Tổng hợp vật liệu composite MnO2/GO và AgNPs/MnO2/GO; - Điện cực than thủy tinh biến tính bằng vật liệu MnO2/ErGO xác định đồng thời CAP và TNZ bằng phương pháp LS-AdCSV; - Điện cực than thủy tinh biến tính bằng vật liệu AgNPs/MnO2/ErGO xác định đồng thời PRX và OFX bằng phương pháp DP-AdASV.
Đóng góp mới của luận án 1. Đã tổng hợp thành công vật liệu composite MnO2/GO một cách đơn giản, hiệu quả, tiến hành biến tính điện cực làm sensor điện hóa với vật liệu composite MnO2/ErGO có diện tích hoạt động điện hóa lớn (A = 0,076 cm2) và điện trở chuyển điện tích nhỏ (Rct = 0,188 k). Việc xác định đồng thời hai loại kháng sinh chloramphenicol và tinidazole lần đầu tiên được thực hiện bởi điện cực GCE biến tính vật liệu MnO2/ErGO bằng phương pháp LS- AdCSV trong các đối tượng có nền mẫu phức tạp như dược phẩm, mật ong và nước sông. Kết quả này đã được công bố trong tạp chí Journal of Science: Advanced Materials and Devices (2023, SCIE, Q1, IF = 8,0); tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học tự nhiên (2022, Tập 131, Số 1C, trang 17–24); tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học tự nhiên (2023, Tập 132, Số 1C, trang 51 - 59).
Đã tổng hợp thành công vật liệu composite AgNPs/MnO2/GO từ hỗn hợp đồng nhất của dung dịch composite MnO2/GO và AgNPs. Vật liệu composite AgNPs/MnO2/ErGO biến tính điện cực có diện tích hoạt động điện hóa lớn (A = 0,087 cm2) và điện trở chuyển điện tích nhỏ (Rct = 0,077 k). Lần đầu tiên biến tính điện cực GCE bằng vật liệu 3 AgNPs/MnO2/ErGO để xác định đồng thời hai chất kháng viêm - kháng sinh là piroxicam và ofloxacin. Kết quả này được đăng tải trên các tạp chí Industrial & Engineering Chemistry Research (2023, SCIE, Q1, IF = 4,3); tạp chí Khoa học và công nghệ - trường Đại học Khoa học (2023, Tập 22, Số 2, trang 79 – 90), tạp chí Xúc tác hấp phụ Việt Nam (2023, Tập 12, Số 4, trang 48 - 55).
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Đề tài giải quyết vấn đề phát triển sensor điện hóa có độ nhạy cao để định lượng các chất kháng viêm – kháng sinh trong các mẫu dược phẩm và mẫu nước môi trường. Kết quả cho thấy điện cực GCE biến tính bằng các vật liệu MnO2/ErGO và AgNPs/MnO2/ErGO có độ nhạy cao, độ lặp lại tốt, giới hạn phát hiện thấp, đáp ứng phân tích các chất kháng sinh – kháng viêm trên mẫu thực tế ở dạng vết. Các chất kháng sinh – kháng viêm hiện nay được sử dụng rất nhiều, trong khi đó phương pháp phân tích điện hóa có chi phí thiết bị và phân tích tương đối thấp, quá trình phân tích đơn giản, nhanh chóng. Kết quả luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về phân tích điện hóa, hóa dược và môi trường.
Cấu trúc luận án bao gồm: - Mở đầu. - Chương 1: Tổng quan tài liệu. - Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Kết quả và thảo luận.
- Chương 4: Kết luận. - Danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu của luận án. - Tài liệu tham khảo. 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
VẬT LIỆU GRAPHENE 1. Graphite oxide, graphene oxide và graphene oxide dạng khử Graphite oxide (GrO) là sản phẩm oxy hóa graphite (G) bằng các tác nhân oxy hóa mạnh, qua đó gắn các nhóm chức có chứa oxy lên bề mặt các tấm graphene nằm trong cấu trúc graphite như: carbonyl, carboxyl, hydroxyl, epoxy (hình 1. Quá trình bóc tách graphite oxide thành graphene oxide (GO) sẽ được thực hiện thành công khi đáp ứng một số thông số như thời gian siêu âm, năng lượng và dung môi (hình 1. Như vậy, có thể cho rằng GrO và GO có cấu trúc là như nhau, chỉ khác nhau là GO được phân tán trong dung môi thích hợp nhờ sự trợ giúp của siêu âm.
Sự khởi đầu tổng hợp GO có từ thế kỷ 19, vào năm 1859 Brodie oxy hóa Graphite thành GO [28] nhưng không được quan tâm tại thời điểm đó. Quá trình này đã được cải tiến bởi nhiều nhóm và nhà khoa học như Staudenmaier (1898) [180], Hummers (1958) [82], Shen (2009) [171], Marcano (2010) [124] và nhiều nghiên cứu khác bằng cách thay đổi chất oxy hóa, nguồn graphite và nhiệt độ phản ứng được thể hiện tại bảng 1. Các phương pháp chính tổng hợp graphene oxide. Chất Thời gian Nhiệt độ Tác giả Ghi chú Năm Tltk phản ứng phản ứng phản ứng HNO3, 3 – 4 giờ 60 °C Phương pháp đầu Brodie KClO3 tiên 1859 [28] KClO3, Nhiệt độ Staudenmaier HNO3, 96 giờ 1898 [180] phòng H2SO4 KMnO4, Phương pháp được Nhiệt độ Hummers H2SO4, 20 giờ sử dụng rộng rãi 1958 [82] phòng NaNO3 nhất Benzoyl Shen 10 phút 110 °C Không có dung dịch 2009 [171] peroxide H2SO4, Hummers cải tiến.
Marcano H3PO4, 12 giờ 35- 40 °C 2010 [124] Độc tính thấp KMnO4 KMnO4, Hummers cải tiến. David H2SO4, < 2 giờ 35 °C Thời gian phản ứng 2013 [120] NaNO3 ngắn. KMnO4, Hummers cải tiến. Eigler H2SO4, 16 giờ < 10 °C GO và rGO tinh 2014 [48] NaNO3 khiết.
K2FeO4, Nhiệt độ Không thải ra kim Peng 1 giờ 2014 [142] H2SO4 phòng loại Mn H2SO4, Hummers cải tiến. H3PO4, Panwar 3 giờ 50 °C Hiệu suất tổng hợp 2015 [140] KMnO4, cao HNO3 Ban đầu, HNO3 và KClO3 được sử dụng [28], [180] nhưng khí độc được tạo ra trong quá trình phản ứng như ClO2, NO2, N2O4 và cần nhiều thời gian.