Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Quế (Cinnamomum cassia Nees & Eberth, thuộc họ Long não - Lauraceae) là loài cây gỗ đa tác dụng, có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao tại Việt Nam. Toàn bộ các bộ phận của cây từ vỏ, lá, hoa, gỗ đến rễ đều chứa tinh dầu với thành phần chính là aldehyt cinamic (chiếm từ 70% đến 90%), trong đó vỏ quế có hàm lượng tinh dầu cao nhất (đạt từ 1,0% đến 4,0% hoặc 5,0%). Tại các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng, phát triển rừng trồng quế là nguồn thu nhập chủ lực của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, tại huyện Mường Khương, các diện tích rừng quế xuất hiện hiện tượng bị sâu hại tấn công gây chết ngọn cành. Ở giai đoạn quế nhỏ (5–7 tuổi), cây bị sâu hại nặng làm khô héo và chết dần; ở giai đoạn quế lớn (9–12 tuổi), cây bị hại tuy không chết nhưng cành ngọn sùi to, vỏ cây bị chai sần dẫn đến không bóc được vỏ và làm suy giảm nghiêm trọng hàm lượng tinh dầu. Trước thực trạng nguồn tài liệu và công trình nghiên cứu chuyên sâu về thành phần sâu hại quế và biện pháp phòng trừ tại địa phương còn hạn chế, tác giả Hù Mạnh Dũng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại quế tại xã Lùng Vai - huyện Mường Khương - tỉnh Lào Cai".

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của các loài sâu hại quế; xác định các loài sâu hại chủ yếu nhằm đề xuất biện pháp phòng chống thích hợp, nâng cao năng suất rừng trồng, chất lượng gỗ, tăng thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định thành phần loài sâu hại quế tại địa bàn nghiên cứu.
    2. Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại quế chính.
    3. Đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại thích hợp cho cây quế tại địa phương.

Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu:

  1. Điều tra, lập danh lục thành phần loài sâu hại quế tại xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
  2. Xác định đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh học của các loài sâu hại chủ yếu.
  3. Nghiên cứu, thử nghiệm các biện pháp phòng trừ sâu hại chính.
  4. Đề xuất hệ thống biện pháp phòng trừ sâu hại quế áp dụng tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Quế (Cinnamomum cassia) và quần thể các loài côn trùng gây hại trên cây quế cùng các loài thiên địch liên quan.
  • Phạm vi không gian: 6 ô tiêu chuẩn được thiết lập tại các trạng thái rừng quế 5 tuổi và 12 tuổi thuộc địa bàn xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
  • Phạm vi thời gian: Đợt điều tra thực địa được thực hiện từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2019, định kỳ 7 đến 10 ngày điều tra một lần; khóa luận hoàn thành vào tháng 05/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận về bảo vệ thực vật lâm nghiệp, quy luật phát sinh phát triển của côn trùng hại rừng, và nguyên lý quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Tác giả kế thừa các công trình phân loại côn trùng và nghiên cứu sâu hại quế trước đó của Nguyễn Đình Long (2002), Hoàng Xuân Hùng (2004), Kiều Minh Tứ (2004), Nguyễn Thị Hồng Nhung (2007).

Phương pháp thu thập và điều tra thực địa

  1. Thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC):

    • Thiết lập 6 OTC đại diện cho lâm phần rừng quế thuần loài tại xã Lùng Vai (diện tích mỗi OTC từ 500 $m^2$ đến 2.500 $m^2$, số lượng cây > 100 cây/ô).
    • Trong mỗi OTC, chọn ngẫu nhiên có hệ thống 30 cây tiêu chuẩn để đo đếm đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), độ tàn che, độ dốc và hướng phơi.
  2. Phương pháp điều tra sâu hại trên cây:

    • Đối với cây cao trên 2,5m: Chọn điều tra 5 đến 6 cành tiêu chuẩn phân bố đều trên tán. Quan sát, đếm số lượng cá thể sâu hại theo từng pha phát triển (trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành).
    • Đối với cây cao dưới 2,5m: Điều tra toàn bộ cây.
    • Điều tra mức độ hại lá: Trên mỗi cành tiêu chuẩn kiểm tra 6 lá (2 lá gốc, 2 lá giữa, 2 lá ngọn). Phân cấp mức độ hại lá theo thang 5 cấp:
      • Cấp 0: Không bị hại (0%).
      • Cấp I: Hại nhẹ (< 25% diện tích lá bị hại).
      • Cấp II: Hại vừa (25% – 50% diện tích lá bị hại).
      • Cấp III: Hại nặng (51% – 75% diện tích lá bị hại).
      • Cấp IV: Hại rất nặng (> 75% diện tích lá bị hại).
  3. Phương pháp điều tra sâu hại dưới đất:

    • Đặt 5 ô dạng bản (ODB) kích thước $1m \times 1m$ trong mỗi OTC (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm).
    • Gạt lớp thảm mục mặt đất, dùng cuốc đào từng lớp đất sâu 10cm, bóp nhỏ đất hoặc dùng rây để đếm số lượng sâu hại rễ.
  4. Phương pháp nghiên cứu sinh học và thử nghiệm phòng trừ:

    • Thu thập sâu non, nhộng từ hiện trường về nuôi trong lồng lưới để theo dõi thời gian phát dục, các pha sinh trưởng và đặc điểm hình thái.
    • Bố trí ô thí nghiệm diện hẹp (25 $m^2$) hoặc diện rộng ($\ge 350 m^2$) có ô đối chứng để đánh giá 4 nhóm biện pháp: thu bắt cơ giới, bẫy bả, sử dụng thiên địch, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Phương pháp xử lý số liệu thống kê

  • Mật độ sâu hại ($M$): $M = \frac{\sum a_i}{N}$ (trong đó $a_i$ là số cá thể sâu trên cây/ô điều tra thứ $i$, $N$ là tổng số mẫu điều tra).
  • Tỷ lệ cây bị sâu hại ($P%$): $P% = \frac{n}{N} \times 100$ ($n$ là số cây/ODB xuất hiện sâu hại).
  • Chỉ số mức độ bị hại ($R%$): $R% = \frac{\sum (n_i \cdot v_i)}{N \cdot V} \times 100$ ($n_i$ là số lá bị hại ở cấp $i$, $v_i$ là trị số cấp hại, $V$ là cấp hại cao nhất = 4).
  • Hệ số biến động mật độ ($S%$): $S% = \frac{S}{M} \times 100$, với $S = \sqrt{\frac{\sum (X_i - M)^2}{N-1}}$.
  • Kiểm định sự sai khác trung bình (tiêu chuẩn $U$): $$U = \frac{\bar{X}_1 - \bar{X}_2}{\sqrt{m_1^2 + m_2^2}}$$ Nếu $|U| > 1,96$, sự sai khác giữa hai giá trị trung bình có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất $\alpha = 0,05$ (độ tin cậy 95%).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương I trình bày hệ thống tài liệu về phân loại thực vật học, sinh thái, phân bố và giá trị kinh tế của cây Quế (Cinnamomum cassia). Về phân bố, quế tập trung tại Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia và Việt Nam (với 4 vùng trồng tập trung chính gồm Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hóa – Nghệ An, Quảng Nam – Quảng Ngãi). Về đặc tính sinh học, quế là loài ưa sáng khi trưởng thành nhưng cần che bóng ở giai đoạn 1–5 năm tuổi; thích hợp với nhiệt độ 20–25°C, đất feralit chua (pH 4–6). Về khai thác, quế được phân loại sản phẩm theo vị trí bóc vỏ gồm "quế hạ căn" (gốc đến 1,2m), "quế thượng châu" (từ 1,2m đến chỗ phân cành cấp 1 - chất lượng cao nhất), "quế thượng biểu" (cành to) và "quế chi" (cành nhỏ). Cây quế 15–20 năm tuổi cho năng suất 12–16 kg vỏ khô/cây (bình quân 4,5 tấn/ha).

Tác giả tổng hợp 13 loài sâu hại quế từ các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và chỉ ra rằng các tài liệu trước đây mới dừng lại ở bước lập danh mục, thiếu thông tin chi tiết về tập tính sinh học, quy luật biến động mật độ theo yếu tố lập địa và giải pháp dự tính dự báo phát dịch.

Chương II: Những điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu

Chương này tổng kết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai:

  • Vị trí và địa hình: Xã vùng thấp của huyện Mường Khương, cách trung tâm huyện 25km, tổng diện tích tự nhiên 5.875 ha. Địa hình núi cao chia cắt mạnh, độ dốc lớn, khe suối sâu.
  • Tài nguyên đất và rừng: Đất lâm nghiệp chiếm 4.280,79 ha (rừng tự nhiên 2.637,87 ha; rừng trồng 768,89 ha; đất trống 531,24 ha). Đất chính là Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, chiếm 45% diện tích tự nhiên, tầng đất dày, thích hợp cho cây lâm nghiệp lâu năm.
  • Khí hậu - Thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ; nhiệt độ trung bình năm 24–26°C (cao nhất 37°C, thấp nhất 8°C); lượng mưa trung bình > 1.400mm; độ ẩm không khí bình quân 83% (thấp nhất 79% vào tháng 2, cao nhất 88% vào tháng 7).
  • Dân sinh - Kinh tế: Toàn xã có 20 thôn bản với 1.594 hộ, 12 dân tộc (H'Mông, Dao, Kinh, Dáy, Pa Dí, Tu Dí, Phù Lá, Nùng...); số người trong độ tuổi lao động là 3.000 người (chiếm 61,8%). Cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp chiếm trên 90% tổng giá trị sản xuất; thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 32,31 triệu đồng/năm.

Chương III: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp nghiên cứu

Chương III cụ thể hóa các mục tiêu, nội dung, quy trình thiết lập 6 ô tiêu chuẩn và hệ thống mẫu biểu điều tra. Thông số kỹ thuật của 6 ô tiêu chuẩn được thiết lập như sau:

STT Số hiệu OTC Ngày đặt ô Hướng dốc Độ dốc Độ cao (m) Vị trí địa hình Tuổi rừng Nguồn giống Số cây/ô Độ tàn che $H_{vn}$ TB (m) $D_{1.3}$ TB (cm)
1 OTC 01 27/01/2019 Tây Bắc 28° 405 Sườn 12 năm Tự mua 108 0,9 11,0 20,0
2 OTC 02 14/02/2019 Tây Nam 32° 415 Chân 5 năm Dự án 112 0,6 3,0 5,0
3 OTC 03 18/02/2019 Bắc 30° 418 Sườn 5 năm Dự án 120 0,7 3,0 5,0
4 OTC 04 22/02/2019 Đông Bắc 25° 412 Đỉnh 5 năm Dự án 123 0,7 3,0 5,0
5 OTC 05 01/03/2019 Tây Nam 27° 395 Chân 12 năm Tự mua 102 0,8 12,0 20,0
6 OTC 06 05/03/2019 Nam 21° 394 Đỉnh 12 năm Tự mua 115 0,9 10,0 19,0

Chương này cũng xác lập quy trình sử dụng 4 mẫu biểu điều tra chuyên dụng (đặc điểm OTC, sâu hại thân cành ngọn, mức độ hại lá, sâu hại đất) và các công thức toán thống kê sinh học để phân tích dữ liệu thực địa.

Chương IV: Kết quả và phân tích kết quả

1. Thành phần loài sâu hại quế

Khóa luận đã xác định được 13 loài sâu hại thuộc 10 họ của 6 bộ côn trùng tại xã Lùng Vai:

STT Bộ côn trùng Tên họ Tên loài Việt Nam Tên khoa học Bộ phận bị hại
1 Bộ Cánh bằng (Isoptera) Họ Mối đất (Termitidae) Mối Macrotermes sp. Hại rễ
2 Bộ Cánh thẳng (Orthoptera) Họ Châu chấu ma (Oedipodidae) Châu chấu ma Trilophidia annulata (Thunberg, 1815) Hại lá
3 Bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) Họ Bọ xít mai rùa (Scutelleridae) Bọ xít nâu sẫm Cantao ocellatus (Thunberg) Hút dịch
4 Bộ Cánh đều (Homoptera) Họ Bọ phấn (Aleyrodidae) Bọ phấn Aleuroplatus cinnamomi Jesudasan & David Hút dịch
5 Bộ Cánh đều (Homoptera) Họ Rầy xanh (Cicadellidae) Rầy đỏ Bothrogonia indistincta Walker Hút dịch
6 Bộ Cánh cứng (Coleoptera) Họ Bổ củi (Elateridae) Bọ ngực đỏ Denticollis linearis (Linnaeus, 1758) Hại rễ
7 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Ngài hại vỏ (Metarbelidae) Sâu hại vỏ Indarbela quadrinotata Hại vỏ
8 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Ngài sáng (Pyralidae) Sâu ổ Orthaga vitialis (Walker, 1859) Hại lá
9 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Ngài độc (Lymantriidae) Sâu róm Euproctis fraterna (Moore, 1883) Hại lá
10 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Bướm phượng (Papilionidae) Bướm chai xanh Graphium sarpedon Hại lá
11 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Bướm phượng (Papilionidae) Bướm ngụy trang (Bướm hề) Chilasa clytia (Linnaeus) Hại lá
12 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Sâu đo (Geometridae) Sâu đo ăn lá quế Biston betularia Hại lá
13 Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ Ngài cánh trong (Sesiidae) Sâu đục cành Parathrene sp. Hại thân cành

Cơ cấu phân loại học: Bộ Cánh vẩy chiếm ưu thế tuyệt đối với 6 họ (chiếm 50,00% tổng số họ) và 7 loài (chiếm 53,85% tổng số loài). Bộ Cánh đều có 2 họ (16,67%) và 2 loài (15,38%). Các bộ Cánh bằng, Cánh thẳng, Cánh nửa cứng, Cánh cứng mỗi bộ có 1 họ (8,33%) và 1 loài (7,69%).

Phân nhóm gây hại: Nhóm sâu hại lá gồm 5 loài (41,66%); nhóm hút dịch gồm 3 loài (25,00%); nhóm hại thân, cành, vỏ gồm 2 loài (16,66%); nhóm hại rễ gồm 2 loài (16,66%).

2. Xác định các loài sâu hại chủ yếu

Căn cứ vào tần suất xuất hiện qua các đợt điều tra, mật độ cá thể ($M$), tỷ lệ nhiễm ($P%$) và mức độ gây tổn thương, tác giả xác định 4 loài sâu hại chủ yếu:

Chỉ số điều tra Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata) Sâu đục cành (Arbela bailbarama) Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis) Sâu róm (Euproctis fraterna) Sâu đo (Biston betularia) Châu chấu ma (Trilophidia annulata) Bướm ngụy trang (Chilasa clytia)
Tỷ lệ bị sâu $P%$ TB (%) 35,39 35,36 35,07 35,67 34,84 12,64 25,91
Mật độ sâu $M$ TB (con/cây) 0,36 0,36 0,35 0,36 0,30 0,13 0,11
Hệ số biến động $S%$ (%) 52,91 59,32 44,51 59,33 28,86 22,20 5,24
Mức độ gây hại Vừa Vừa Vừa Vừa Vừa Trung bình Vừa

3. Đặc điểm sinh học của các loài sâu hại quế chính

  • Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis Zheng):
    • Tập tính gây hại: Chích hút nhựa ở nách cành và gốc chồi non bánh tẻ. Vết chích ban đầu hình tròn màu nâu đỏ rỉ dịch nhựa, sau 1–2 tuần chuyển sang màu đen lõm xuống, khô nứt dọc cành. Làm ngọn và cành chết khô sau 2–3 tháng hoặc sùi to ở vị trí chích, làm giảm hàm lượng tinh dầu và không bóc được vỏ. Hại nặng nhất ở quế 4–7 tuổi (cấp hại II–IV), hầu như không hại quế trên 10 tuổi.
    • Hình thái & Vòng đời: Con trưởng thành dài 0,8–0,9cm, rộng 0,4–0,5cm, màu nâu sẫm, mắt kép lồi, ngực trước phát triển. Trứng hình quả cà dài 1,6–1,8mm, đẻ ở nách cành. Sâu non có 5 tuổi. Vòng đời kéo dài 35–43 ngày (pha trứng 4–5 ngày, sâu non 12–13 ngày, trưởng thành 19–25 ngày). Phát sinh mạnh vào tháng 3 và tháng 9 hàng năm.
  • Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata):
    • Hình thái & Tập tính: Sâu non màu hơi hồng, đầu bẹt màu nâu sẫm, cơ thể có 13 đốt, 3 đôi chân ngực, 5 đôi chân bụng. Sâu non ăn biểu bì và vỏ cây, tạo lớp màng bảo vệ 2 lớp bên ngoài xen kẽ phân thải; khi bị động tiết dịch màu đỏ. Nhộng dài 10–15mm nằm trong tổ kén trên thân. Qua đông ở pha sâu non.
  • Sâu róm (Euproctis fraterna):
    • Hình thái & Vòng đời: Sâu non ăn trụi lá quế. Trứng màu vàng đẻ thành khối ở mặt dưới lá có lông bảo vệ. Sâu non có 6 tuổi, thân đen có vạch vàng cam xen kẽ vạch trắng, nhiều túm lông độc dài; tuổi 1 dài 1,5–2mm, tuổi đực/cái đẫy sức dài 26–31mm. Nhộng màng dài 9–20 ngày nằm trong kén tơ. Vòng đời hoàn chỉnh kéo dài 30–40 ngày (hoặc 6–7 tuần). Con trưởng thành sống 5–8 ngày.
  • Sâu đục cành (Arbela bailbarama Mast / Parathrene sp.):
    • Hình thái & Tập tính: Con cái dài 7–12mm, sải cánh 22–25mm; cánh trước xám trắng có đốm đen. Sâu non màu đen bóng dài 18–27mm, đục vào nách cành có đường kính 1,5–3cm, chiều dài vết đục 10–15cm làm cành phình to và chết khô. Mỗi năm phát sinh 1 lứa; trưởng thành vũ hóa vào tháng 6–7, đẻ trứng ở kẽ nứt vỏ cây; sâu non qua đông trong cành cây. Thường xuất hiện trên quế từ 5 năm tuổi trở lên tại khu vực chân đồi ẩm ướt.

4. Ảnh hưởng của tuổi cây đến mật độ sâu hại

Loài sâu hại Mật độ trên quế 5 tuổi (con/cây) Mật độ trên quế 12 tuổi (con/cây) Mức chênh lệch $\Delta$ (con/cây)
Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis) 0,10 0,09 0,01
Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata) 0,10 0,07 0,03
Sâu róm (Euproctis fraterna) 0,07 0,01 0,06
Sâu đục cành (Arbela bailbarama) 0,07 0,01 0,06

Kết quả chỉ ra rằng rừng quế 5 tuổi có mật độ sâu non của cả 4 loài hại chính cao hơn rõ rệt so với rừng quế 12 tuổi. Sự chênh lệch thể hiện rõ nhất ở sâu róm và sâu đục cành ($\Delta = 0,06$ con/cây) do quế giai đoạn 5 tuổi có nhiều cành non, tán lá rậm rạp và sinh khối chồi phong phú.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập danh lục gồm 13 loài sâu hại quế thuộc 10 họ, 6 bộ côn trùng tại xã Lùng Vai, huyện Mường Khương.
  • Định danh và phân tích chi tiết đặc điểm hình thái, vòng đời, tập tính gây hại của 4 loài sâu hại chủ yếu: Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis Zheng, vòng đời 35–43 ngày), Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata), Sâu róm (Euproctis fraterna, vòng đời 30–40 ngày), Sâu đục cành (Arbela bailbarama Mast, vòng đời 1 năm/lứa).
  • Lượng hóa quy luật ảnh hưởng của tuổi lâm phần: quế giai đoạn non (5 tuổi) có mật độ sâu hại cao hơn hẳn rừng quế thành thục (12 tuổi) trên toàn bộ 4 đối tượng sâu hại chính.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

  • Áp dụng các biện pháp cơ giới - thủ công: rung cây thu bắt sâu non, cạo sạch màng phân và bắt sâu non hại vỏ cây vào mùa đông.
  • Cắt tỉa cành bị sâu đục, tỉa thưa điều chỉnh mật độ lâm phần hợp lý nhằm giảm độ ẩm cục bộ, tạo độ thông thoáng tán rừng nhằm hạn chế môi trường phát sinh của bọ xít và sâu đục cành.
  • Bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên trong rừng quế; chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chọn lọc khi mật độ dịch hại vượt ngưỡng gây hại kinh tế.

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

  • Bổ sung dẫn liệu điều tra thực địa chi tiết về khu hệ sâu hại quế tại tiểu vùng sinh thái Mường Khương (Lào Cai), nơi trước đó chưa có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống.
  • Cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương và các hộ trồng quế nhận diện đúng đối tượng gây hại nguy hiểm (đặc biệt là hiện tượng bọ xít gây sùi cành chết ngọn), từ đó áp dụng các giải pháp phòng trừ kịp thời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp với thời gian điều tra thực địa tập trung vào các tháng đầu năm 2019 (mùa khô chuyển sang đầu mùa mưa), chưa bao quát trọn vẹn diễn biến phát sinh của sâu hại qua cả 4 mùa trong năm.
    • Số lượng ô tiêu chuẩn điều tra thực tế còn giới hạn trong 6 OTC tại một xã; pha trưởng thành của loài sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata) chưa bắt gặp trực tiếp ngoài hiện trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn huyện Mường Khương và các chu kỳ mùa khác nhau trong năm để hoàn thiện bản đồ dịch tễ côn trùng hại quế.
    • Nghiên cứu sâu về các loài thiên địch ký sinh, thiên địch ăn thịt và thử nghiệm các chế phẩm sinh học phòng trừ sâu róm, bọ xít nâu sẫm trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Bảo vệ thực vật; cán bộ trạm khuyến nông - khuyến lâm cấp huyện, xã.
  • Hạng mục giá trị tham khảo:
    • Quy trình phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn điều tra sâu hại cây lâm nghiệp trên địa hình đồi núi dốc.
    • Bảng mô tả chi tiết triệu chứng gây hại của Bọ xít nâu sẫm và Sâu hại vỏ trên cây quế.
    • Hệ thống công thức toán thống kê sinh học (tính chỉ số $R%$, tiêu chuẩn $U$) dùng trong phân tích sinh thái côn trùng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận bao nhiêu loài sâu hại quế tại xã Lùng Vai và bộ côn trùng nào chiếm tỷ lệ cao nhất?

Khóa luận đã phát hiện 13 loài sâu hại thuộc 10 họ của 6 bộ côn trùng. Trong đó, bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) chiếm ưu thế lớn nhất với 6 họ (chiếm 50,00% tổng số họ) và 7 loài (chiếm 53,85% tổng số loài sâu hại được ghi nhận).

2. Triệu chứng gây hại đặc trưng của Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis) trên cây quế là gì?

Bọ xít non và trưởng thành chích hút dịch nhựa ở nách cành và gốc chồi non bánh tẻ. Vết chích ban đầu tròn màu nâu đỏ và rỉ nhựa, sau 1–2 tuần chuyển đen, lõm xuống và nứt dọc. Sau 2–3 tháng, cành bị hại nặng sẽ chết khô; cành bị hại nhẹ không chết nhưng phần gỗ sùi to bất thường, vỏ cây mất tinh dầu và không thể bóc tách thu hoạch.

3. Mật độ sâu hại biến động như thế nào giữa rừng quế 5 tuổi và rừng quế 12 tuổi?

Rừng quế 5 tuổi có mật độ sâu non cao hơn rừng quế 12 tuổi ở cả 4 loài sâu chính: Bọ xít nâu sẫm đạt 0,10 so với 0,09 con/cây; Sâu hại vỏ đạt 0,10 so với 0,07 con/cây; Sâu róm đạt 0,07 so với 0,01 con/cây; Sâu đục cành đạt 0,07 so với 0,01 con/cây. Mức chênh lệch lớn nhất tập trung ở sâu róm và sâu đục cành ($\Delta = 0,06$ con/cây).

4. Quy trình điều tra sâu hại dưới đất trong rừng quế được thực hiện như thế nào?

Trong mỗi OTC, tác giả lập 5 ô dạng bản (ODB) kích thước $1m \times 1m$ (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở tâm OTC). Tiến hành gạt bỏ thảm mục bề mặt, sau đó cuốc và đào đất theo từng lớp sâu 10cm, bóp nhỏ đất hoặc dùng rây lọc để thu bắt, phân loại và đếm số lượng trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành của các loài sâu hại rễ (như mối, bọ ngực đỏ).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hù Mạnh Dũng đã hoàn thành toàn diện các nội dung điều tra thực địa, lập danh lục 13 loài sâu hại quế và xác định được 4 loài gây hại chủ yếu tại xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Nghiên cứu đã làm rõ đặc điểm hình thái, vòng đời sinh học, tập tính phá hại cũng như sự phân hóa mật độ sâu hại theo độ tuổi lâm phần của rừng quế. Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và phòng trừ tổng hợp được đề xuất trong công trình là tài liệu hữu ích cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng trồng quế tại địa phương.