MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Việt Nam có đƣờng bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo và hệ thống sông ngòi dày đặc với 2860 sông ngòi lớn nhỏ và tổng lƣợng dòng chảy khoảng 867 tỷ m3/năm. Các loại hình đất vùng cửa sông của Việt Nam do đó rất đa dạng, chiếm diện tích lớn và là một dạng tài nguyên quan trọng. Phần lớn thóc, gạo, cá, tôm và các loại lƣơng thực, thực phẩm khác đều sản đƣợc xuất từ những vùng đất ngập nƣớc.
Ngoài vai trò sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, đất ngập nƣớc còn đóng vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trƣờng nhƣ lọc nƣớc thải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hoà khí hậu địa phƣơng, chống xói lở bờ biển, ổn định mức nƣớc ngầm cho những vùng sản xuất nông nghiệp, tích luỹ nƣớc ngầm, là nơi trú chân của nhiều loài chim di cƣ quý hiếm, là nơi giải trí, du lịch rất giá trị cho ngƣời dân Việt Nam cũng nhƣ khách nƣớc ngoài. Đất vùng cửa sông là một hệ sinh thái rất đặc thù, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trƣờng và đa dạng sinh học. Trƣớc hết đây là vùng có năng suất sinh học cao, cung cấp nguồn lƣơng thực và thực phẩm chủ yếu để nuôi sống con ngƣời. Đồng thời cũng là vùng đất có chức năng bảo vệ môi trƣờng cơ bản nhƣ điều tiết nguồn nƣớc ngầm, khống chế lũ lụt, bảo vệ bờ biển, ổn định khí hậu… Tuy nhiên việc quản lý, khai thác và bảo vệ hệ sinh thái này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập.
Để thấy đƣợc sự khác biệt trong sự biến đổi sử dụng đất giữa một vùng đang trên đà phát triển công nghiệp với một vùng nông nghiệp vẫn chiếm ƣu thế, tác giả đã chọn khu vực nghiên cứu là vùng cửa Nam Triệu- Cửa Cấm (Hải Phòng) và cửa Đáy (Nam Định- Ninh Bình). GIS và viễn thám ngày nay đang đƣợc ứng dụng rộng rãi trong việc theo dõi những biến đổi bề mặt Trái đất, quản lý tài nguyên và môi trƣờng, trong đó nghiên cứu hiện trạng lớp phủ thổ nhƣỡng, hiện trạng sử dụng đất từ đó nghiên cứu biến động sử dụng đất là những ứng dụng phổ biến nhất. Cho đến thời điểm hiện nay, ảnh vệ tinh có nhiều loại và đã có nhiều thế hệ. Song đƣợc sử dụng phổ biến hơn cả vẫn là các ảnh vệ tinh tài nguyên chụp ở dải phổ nhìn thấy và cận hồng ngoại; Nhƣ hệ thống ảnh Landsat của Mỹ, ảnh SPOT của Pháp, ảnh KFA-1000, MK-4 và KATE-200 của Nga.
Các loại ảnh này có thể đƣợc dùng trong các lĩnh vực về điều tra tài nguyên, giám sát môi trƣờng… Đặc biệt 3 z đƣợc sử dụng để thành lập ra các bản đồ về hiện trạng (hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng, hiện trạng lớp phủ, hiện trạng môi trƣờng, bản đồ địa hình.) và các bản đồ biến động (biến động diện tích rừng, biến động bờ sông-bờ biển, biến động lớp phủ. Có thể nói rằng, ảnh vệ tinh là tƣ liệu rất tốt để nghiên cứu các đối tƣợng trên bề mặt đất. Hiện nay đã có những loại ảnh có độ phân giải hình học khác nhau, cho phép xác định nhiều đối tƣợng và hiện tƣợng ở những mức độ chi tiết cũng khác nhau. Ảnh đƣợc chụp với diện rộng và ở độ cao lớn nên có thể ghi nhận đƣợc nhiều đối tƣợng, hiện tƣợng trong một phạm vi lớn ở cùng một thời điểm và có khả năng tự tổng hợp hoá tự nhiên.
Để xác định phạm vi phân bố các loại hình đất ngập nƣớc, có thể coi ảnh vệ tinh là tƣ liệu và công cụ hữu hiệu hiện nay. Nhờ khả năng phân tích không gian, thời gian và mô hình hóa, công nghệ GIS lại cho phép tạo ra những thông tin có giá trị gia tăng cho các thông tin đƣợc chiết xuất từ dữ liệu vệ tinh đó (Burrough và cộng sự, 1998). Các phƣơng pháp toán thống kê ngày nay cũng đang đƣợc sử dụng rất hiệu quả trong các phân tích địa lý. Cụ thể với các phƣơng pháp phân tích đa biến giúp cho việc giải thích mối tƣơng quan của dữ liệu, khẳng định hay phủ định các giả thiết đặt ra ban đầu và tạo ra một ý nghĩa địa lý rất quan trọng.
Trong luận văn này, phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu đƣợc sử dụng là phƣơng pháp phân tích không gian, sử dụng các tƣ liệu Viễn thám đa thời gian, và phƣơng pháp phân tích thống kê kết hợp với các dữ liệu bổ trợ. Sự biến động sử dụng đất sẽ dễ dàng đƣợc phát hiện từ ảnh vệ tinh, tích hợp và xử lý các lớp thông tin qua các năm sẽ đánh giá đƣợc biến động trong giai đoạn nghiên cứu. Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ của mình, tác giả chọn tên đề tài: Ứng dụng viễn thám và GIS nghiên cứu biến động sử dụng đất cửa Nam Triệu- Cửa Cấm (Hải Phòng) và vùng Cửa Đáy (Nam Định- Ninh Bình) giai đoạn 1987-2010. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu diễn biến hai vùng cửa sông, cửa Nam Triệu- Cửa Cấm (Hải Phòng) và Cửa Đáy (Nam Định- Ninh Bình) trên cơ sở ứng dụng thông tin viễn thám đa thời gian và GIS để thấy đƣợc sự khác nhau trong quá trình phát triển về cả không gian và thời gian.
Nhiệm vụ nghiên cứu: 1. Đánh giá tổng quan các nghiên cứu về vùng cửa sông và khả năng sử dụng thông tin viễn thám trong nghiên cứu vùng ven biển và cửa sông. Thu thập và xử lý các nguồn tƣ liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu (địa chất, địa mạo, khí tƣợng- thủy- hải văn, kinh tế - xã hội, tƣ liệu ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, bản đồ các loại). Điều tra thực địa, đối sánh với bản đồ biến động, đánh giá độ chính xác và khai thác thông tin cho đánh giá biến động sử dụng đất.
Xây dựng mô hình xử lý thông tin không gian trong nghiên cứu vùng ven biển và cửa sông. Tích hợp thông tin không gian trên các hệ thống xử lý ảnh số và GIS; phân tích, đánh giá qui mô biến động của các hình thức sử dụng đất. Phƣơng pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống và các phƣơng pháp có ứng dụng công nghệ hiện đại nhƣ viễn thám, Hệ thông tin địa lý (GIS). Các phƣơng pháp truyền thống sử dụng trong đề tài: - Nhóm các phƣơng pháp thủy văn, địa chất- địa mạo.
- Phân tích thống kê và tổng hợp các tài liệu, số liệu về kinh tế- xã hội. Điều tra khảo sát ngoài thực địa. Các phƣơng pháp và công nghệ mới: - Phân tích ảnh và triết xuất thông tin viễn thám trên các hệ thống xử lý ảnh số. - Tích hợp thông tin ảnh, bản đồ và các thông tin địa lý khác trên các phần mềm Hệ thông tin địa lý (GIS).
- Phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Ý nghĩa khoa học- công nghệ và thực tiễn: a.Ý nghĩa khoa học và công nghệ: Trong bối cảnh khi ứng dụng công nghệ không gian và tin học đang phát triển bùng nổ trên Thế giới, việc triển khai nghiên cứu sử dụng thông tin viễn thám và thông tin địa lý (GIS) trong ngành khoa học về Trái đất tại Việt Nam có ý nghĩa khoa học- công nghệ to lớn; nó thực sự góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ công nghệ ở nƣớc ta so với các nƣớc trong khu vực và quốc tế. Ý nghĩa thực tiễn: Theo thời gian các vùng cửa sông ở châu thổ Bắc Bộ phát triển tiến về phía biển và hình thức sử dụng đất ở mỗi vùng cửa sông cũng ít nhiều thay đổi và cũng theo chiều hƣớng khác nhau. Việc ứng dụng công nghệ mới trong nghiên cứu sử dụng đất sẽ rất có hiệu quả trong nghiên cứu, rút ngắn đƣợc rất nhiều thời gian so với các công tác khảo sát đo đạc ngoại nghiệp truyền thống trƣớc đây.
Đặc biệt hiện nay khi nƣớc ta đã bƣớc vào giai đoạn phát triển kinh tế và vƣơn ra phía biển thì tác động của con ngƣời tới biến động vùng ven biển ngày càng mạnh mẽ. Dữ liệu, trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đã sử dụng các tƣ liệu và thiết bị sau: - Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000 khu vực nghiên cứu. - Các tài liệu thống kê tự nhiên, kinh tế xã hội qua các năm nghiên cứu. - Ba ảnh vệ tinh Landsat TM và ETM chụp vào các ngày 23/11/1989; 29/09/2001 và 09/11/2010.
- Một số các bài báo khoa học, tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu. - Máy tính, các phần mềm GIS và xử lý ảnh gồm: ENVI, PCI, Mapinfo, ArcView và ArcGIS. 6 z CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KTXH CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm địa lý 1.
Khu vực cửa Đáy Cửa Đáy là vùng cửa sông nằm giáp 2 huyện là Nghĩa Hƣng- Nam Định và Kim Sơn- Ninh Bình (Hình 1. Khu vực vị trí Cửa Đáy Đây là mô ̣t phần của chi lƣu thuộc hệ thống sông Hồ ng, đổ ra biể n với lƣu l ƣợng nƣớc hàng năm rấ t lớn. Cửa Đáy còn là con đƣờng huyế t ma ̣ch nố i liề n các vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh Nam Định- Ninh Bình thông ra với biể n Đông. Tại cửa sông này hàng năm hiện tƣợng bồi tụ diễn ra thƣờng xuyên.
Vì vậy biến động sử dụng đất của khu vƣ̣c này, đă ̣c biê ̣t là biế n đô ṇ g ở phầ n cƣ̉a sông đòi hỏi sƣ̣ giám sát trong mô ̣t thời gian dài để có công tác quy hoạch và phát triển một cách hợp lý. Huyện Nghĩa Hưng: Nghĩa Hƣng là một huyện ở phía Nam tỉnh Nam Định. Phía Đông giáp các huyện Hải Hậu, Trực Ninh, phía Tây giáp Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình), phía Nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp huyện Nam Trực và Ý Yên. Nghĩa Hƣng nằm lọt trong ba con sông: sông Đào, sông Ninh Cơ và sông Đáy.
7 z Huyện Nghĩa Hƣng có: +Diện tích: 250,5 km².300 ngƣời (năm 2001), 43% theo đạo Thiên Chúa. Hành chính: Nghĩa Hƣng có 25 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thị trấn Liễu Đề (huyện lị), thị trấn Rạng Đông, thị trấn Quỹ Nhất và các xã: Nghĩa Đồng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Minh, Hoàng Nam, Ng hĩa Châu, Nghĩa Thái, Nghĩa Trung, Nghĩa Sơn, Nghĩa Lạc, Nghĩa Hồng, Nghĩa Phong, Nghĩa Phú, Nghĩa Bình, Nghĩa Tân, Nghĩa Thành, Nghĩa Lâm, Nghĩa Hùng, Nghĩa Hải, Nghĩa Thắng, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc, Nam Điền.