Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trên thế giới những nghiên cứu về sâu bệnh hại nói chung, sâu bệnh hại cây lâm nghiệp nói riêng rất phong phú, lĩnh vực này cũng được các nước trên thế giới quan tâm từ rất sớm. Đó là các nghiên cứu cơ bản về sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu, bệnh hại và các biện pháp phòng trừ, trong đó có những nghiên cứu về côn trùng thiên địch, biện pháp sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích theo hướng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp. Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực là các công trình nghiên cứu của Trung Quốc.
Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm [27] đã công bố công trình phân loại côn trùng rừng Việt Nam. Cố Mậu Bình, Trần Phượng Trân (1997) [24] đã cung cấp một tài liệu tham khảo quan trọng để phân loại các loài bướm ngày qua cuốn “Bướm đảo Hải Nam”. Tài liệu này giới thiệu trên 500 loài bướm ngày khác nhau, thể hiện bằng ảnh màu chụp dưới nhiều góc độ và nhiều dạng cho thấy riêng bướm bướm ngày trong khu vực đã có sự đa dạng rất lớn, Xiao Gangrou, 1991 [29] thông qua cuốn “Côn trùng rừng Trung Quốc” đã cho thấy những nghiên cứu cơ bản về hình thái, tập tính của các loài sâu hại cây lâm nghiệp. Mặc dù cuốn sách dày trên 1300 trang nhưng cũng chỉ giới thiệu được những loài côn trùng có ý nghĩa kinh tế đặc biệt và sâu hại.
Viện nghiên cứu khoa học Trung Quốc, 1978 [28] với cuốn “Sổ tay côn trùng thiên địch” đã mô tả về hình thái và tập tính của các loài côn trùng thiên địch c 4 Một trong những tài liệu về thiên địch đáng quan tâm là “Tạp chí bọ rùa Vân Nam” của Tào Thành Nhất [26]. Đây là tài liệu phân loại nên ít đề cập dến sự đa dạng sinh học cuả bọ rùa. Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain [25] đã có những chuyên đề và chương trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng. Thông qua các chương trình để từng bước hoàn thiện IPM.
Các chương trình đã gắn sự hiểu biết về môi trường với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để IPM giải quyết những vấn đề tồn tại và đưa ra quyết định thực hiện phù hợp với việc quản lý sâu hại lâm nghiệp và có thể cho cả nông nghiệp. Kết quả các nghiên cứu trên đã góp phần làm giàu kho tàng kiến thức quản lý côn trùng. Tuy nhiên ở mỗi loài sâu hại, mỗi loài cây, mỗi quốc gia cần sáng tạo khi vận dụng chúng và đặt yêu cầu thực tiễn cụ thể của từng khu vực lên hàng đầu. Tại Việt Nam Nghiên cứu về cây bản địa đặc biệt côn trùng trên cây bản địa ở nước ta nhìn chung chưa được chú trọng, đặc biệt là côn trùng lâm nghiệp.
Các nghiên cứu về côn trùng đã thực hiện chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, phổ biến là nghiên cứu các đặc tính sinh vật học, sinh thái học, từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ mang tính chất chỉ đạo chung. Một số nghiên cứu về côn trùng có lợi mới chỉ đánh giá về mặt kinh tế mà chưa chú ý đến tác dụng nhiều mặt khác của của chúng. Những nghiên cứu cơ bản về côn trùng Việt Nam cũng dừng lại ở mức độ báo cáo, tài liệu giảng dạy và trong phạm vi hẹp với một số loài đại diện. Trên thực tế ở nước ta chưa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu và ứng dụng.
Thời gian gần đây, trước yêu cầu phát triển nhiều mặt của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế - sinh thái môi trường, nghiên cứu về côn trùng đã được chú ý đầu tư. c 5 Công tác dự tính dự báo loài sâu róm thông được Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện năm 1983 [12] làm cơ sở cho việc sử dụng phương pháp sinh học trong phòng trừ. Nghiên cứu này đã giúp cho việc dự báo thời kỳ xuất hiện các lứa sâu trong năm, dự báo mật độ sâu, mức độ gây hại và khả năng hình thành dịch. Nguyễn Tiến Định (2000) [8] đã có đề tài tốt nghiệp nghiên cứu về sự biến động của các loài côn trùng có ích trên một số loài cây trồng bản địa tại Núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp.
Trên 3 loài cây Lim xanh, Sồi phảng và Đinh thối đã phát hiện được 15 loài côn trùng có ích thuộc 7 họ, 4 bộ. Các loài cây khác nhau nhưng thành phần loài cũng tương tự nhau. Lý Thị Tiệp (2000) [20] cũng đã có đề tài tốt nghiệp nghiên cứu về sự biến động của các loài côn trùng có hại trên một số loài cây trồng bản địa tại Núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp. kết quả thu được 14 loài sâu hại thuộc 12 họ, 6 bộ.
Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001) [16] đã xuất bản giáo trình “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp”. Các tác giả nhấn mạnh điều tra, dự tính, dự báo sâu, bệnh hại rừng là công việc có liên quan trặt chẽ với nhau. Điều tra là cơ sở của dự tính, dự báo, điều tra sâu bệnh hại càng tiến hành kịp thời, chính xác thì kết quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy. Dự tính, dự báo là cơ sở cho phòng trừ sâu, bệnh hại và quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên côn trùng và vi sinh vật có ích.
Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002) [15] đã xuất bản cuốn “Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập I”. Đây là tài liệu được nghiên cứu và biên soạn giúp cho những nhà quản lý tài nguyên rừng có cơ sở khoa học để dưa ra các giải pháp thích hợp trong việc phòng trừ sâu, bệnh hại rừng theo nguyên lý quản lý dịch hại tổng hợp, Lợi dụng được sự khống chế tự nhiên c 6 của các loài côn trùng thiên địch, giữ gìn cân bằng sinh thái tự nhiên và an toàn cho môi trường. Nguyễn Thế Nhã và các cộng sự trường Đại học Lâm nghiệp (2003) [18] đã xây dựng mô hình định lượng nguồn dinh dưỡng của sâu bệnh hại để xác định ngưỡng kinh tế trong dự tính, dự báo sâu bệnh hại rừng keo tai tượng. Đây là một vấn đề đang làm các nhà quản lý, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp rất quan tâm.
Về cây bản địa, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã chấp nhận tài trợ cho Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [22], một dự án nghiên cứu mang tên “ Đánh giá sử dụng cây bản địa trong trồng rừng ở Việt Nam” trong tài khóa từ tháng 3 – 2000 đến tháng 3 – 2002. Dự án đã cho kết quả: Đánh giá được hiện trạng một số loài cây bản địa trong trồng rừng; Đánh giá tiềm năng sử dụng cây bản địa vảo trồng rừng; Xây dựng rừng trồng mô hình cho một số loài có tiềm năng. Đoàn Đình Tam (2006) [19] đã có đề tài “Nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái của cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến – Kim Bôi – Hoà Bình”. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie), thuộc họ Dầu (Dipterocarpacaea).
Chò chỉ là cây gỗ lớn có giá trị kinh tế lớn và giá trị đa dạng sinh học cao. Đặc biệt Chò chỉ có tên trong sách đỏ Việt Nam và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao cần được bảo tồn. Chò chỉ có biên độ sinh thái hẹp, thường mọc tự nhiên ven sông suối, chân hoặc sườn núi dốc, độ cao ≤ 700m so với mực nước biển. Chò chỉ là loài cây có mức độ tái sinh tự nhiên thấp, tái sinh có dạng phân bố cụm, đám.
Ở phía Bắc Chò chỉ phân bố ở các tỉnh Sơn La, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hoà Bình. Tại miền Trung có ở Nghệ An, Hà Tĩnh, còn ở các tỉnh phía Nam hầu như không thấy xuất hiện. c 7 Công trình nghiên cứu của Trần Ngọc Hải (2007) [10] về thu thập, bảo tồn nguồn gen thực vật rừng đặc hữu và quý hiếm tại vùng lòng hồ thuỷ điện Sơn La, đã chỉ ra khu vực có đặc chưng của khu hệ thực vật Tây Bắc. Tại đây có nhiều loài thực vật rừng đặc hữu quý hiếm, một số loài là cây đặc hữu của Việt Nam, hiện chỉ còn phân bố rải rác tại một số địa phương trong khu vực.
Tác giả nhận định việc bảo tồn các loài thực vật tại khu vực lòng hồ là hết sức cấp bách, cần được quan tâm. Chi cục Lâm nghiệp Hà Tĩnh, 2008 [1]. Báo cáo kết quả đánh giá Bước đầu trồng nâng cấp rừng phòng hộ bằng cây bản địa tại Hà Tĩnh. Được sự quan tâm của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh và Chi cục Lâm nghiệp, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã triển khai các mô hình thực nghiệm trồng nâng cấp rừng phòng hộ bằng các loài cây gỗ bản địa lá rộng như Lim xanh, Re hương, Cồng trắng… dưới tán rừng Keo thuần loài với cường độ chặt tỉa thưa 20%, 30%, 50% diện tích Keo để điều tiết độ tàn che thích hợp.
Nhìn chung, trên địa bàn tỉnh Sơn La chưa có một đề tài hay báo cáo nào nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp được công bố. Đặc biệt sự biến động côn trùng trên cây bản địa lại chưa được quan tâm, chú trọng. Trong khi đó phát triển các cây trồng bản địa là biện pháp hữu hiệu trong công tác phục hồi rừng ở nước ta hiện nay. Vậy việc nghiên cứu sự biến động của các loài côn trùng trên cây trồng bản địa là thực sự cần thiết.
c 8 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu - Đối tượng: Các loài côn trùng trên một số loài cây bản địa tại Lâm viên Sơn La. - Địa điểm: Khu vườn sưu tập Lâm viên Sơn La 2. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được thành phần, mật độ, diễn biến của các loài côn trùng trên một số loài cây bản địa mới trồng tại Lâm viên Sơn La nhằm phục vụ công tác dự tính dự báo, từ đó đề xuất biện pháp quản lý côn trùng.
Nội dung nghiên cứu Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau: 2. Tìm hiểu thành phần, tình hình sinh trưởng của cây bản địa tại Lâm viên Sơn La.