Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tiêu đề "Nghiên cứu tính biến động và nội ngoại suy theo thời gian ngày của CO và PM10 tại một số trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định ở Việt Nam" được tác giả Trần Thị Thu Hường thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS. Phạm Ngọc Hồ, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành Khoa học môi trường, Mã số: 62 44 03 01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tại Việt Nam diễn ra với tốc độ nhanh, làm gia tăng áp lực ô nhiễm không khí do sinh hoạt, xây dựng, giao thông và sản xuất công nghiệp. Việc đánh giá hiện trạng và dự báo xu thế chất lượng không khí ở các đô thị và khu công nghiệp lớn vẫn còn rời rạc, thiếu tính đồng bộ. Mặc dù hệ thống mạng lưới trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định đã được đầu tư lắp đặt nhằm cung cấp chuỗi số liệu liên tục theo tinh thần Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 và Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ, song kinh phí bảo trì, bảo dưỡng hạn chế dẫn tới tình trạng khuyết thiếu số liệu tại nhiều thời điểm.

Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: các nghiên cứu bổ khuyết và dự báo trước đây thường áp dụng trực tiếp lý thuyết quá trình ngẫu nhiên dừng trên chuỗi dữ liệu đo đạc thực tế, dẫn đến sai số lớn do nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí có tính biến động không dừng theo chu kỳ ngày đêm và mùa. Luận án lựa chọn giải quyết vấn đề bằng cách nghiên cứu đặc trưng biến động và áp dụng lý thuyết quá trình ngẫu nhiên quy tâm (nhiễu động dừng) để xây dựng mô hình nội ngoại suy bổ khuyết dữ liệu thiếu hụt.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích các đặc trưng biến động (bao gồm các đặc trưng số: giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến động và đặc trưng hàm cấu trúc) của hai thông số khí CO và bụi PM10 theo thời gian dựa trên chuỗi số liệu quan trắc tự động liên tục, chỉ ra được đây là các quá trình dừng hay không dừng và sự khác biệt về đặc trưng cấu trúc thống kê tại 3 khu vực địa lý (Láng - thành phố Hà Nội, Đà Nẵng - thành phố Đà Nẵng và Nhà Bè - thành phố Hồ Chí Minh).
  2. Ứng dụng mô hình nội ngoại suy nhằm bổ khuyết số liệu thiếu hụt từ số liệu quan trắc môi trường không khí tự động cố định dựa trên quá trình ngẫu nhiên nhiễu động dừng.
  3. Đề xuất quy trình bổ khuyết số liệu thiếu hụt áp dụng cho khí CO và bụi PM10 tại 03 trạm nghiên cứu, đánh giá sai số tương đối và hiệu suất của mô hình.
  4. Đề xuất các giải pháp quản lý, kỹ thuật trong vận hành các trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định phục vụ công tác giám sát và cảnh báo ô nhiễm không khí ở nước ta.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng biến động theo thời gian của khí CO và bụi PM10 từ chuỗi dữ liệu của các trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định, bao gồm các đặc trưng số (giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến động) và đặc trưng hàm (hàm cấu trúc thời gian phụ thuộc khoảng trễ $\Delta t = \tau$).
  • Phạm vi không gian: Dữ liệu thu thập từ 03 trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định đại diện cho ba miền địa lý của Việt Nam:
    • Khu vực phía Bắc: Trạm Láng - thành phố Hà Nội (kinh độ 105°48' Đ, vĩ độ 21°01' B, độ cao 5,970 m so với mực nước biển, thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa).
    • Khu vực miền Trung: Trạm Đà Nẵng - thành phố Đà Nẵng (kinh độ 108°12' Đ, vĩ độ 16°02' B, thuộc phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu).
    • Khu vực phía Nam: Trạm Nhà Bè - thành phố Hồ Chí Minh (kinh độ 106°47' Đ, vĩ độ 10°41' B, kẹp giữa đường Nguyễn Hữu Thọ và Nguyễn Văn Tạo, huyện Nhà Bè).
  • Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu đo đạc liên tục từ khi các trạm đi vào hoạt động ổn định năm 2004 đến năm 2010.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả đã tổng hợp các công trình quốc tế về tính biến động và nội ngoại suy chuỗi dữ liệu ô nhiễm không khí:

  • Nghiên cứu tính biến động:
    • Tại Bắc Kinh, nghiên cứu biến động PM10 giai đoạn 2001–2012 cho thấy nồng độ cao vào mùa xuân, giảm vào mùa hè và tăng lại vào thu - đông do tác động của áp suất khí quyển, độ ẩm và tốc độ gió [72].
    • Tại Malaysia, nghiên cứu không gian - thời gian của PM10 chia thành 4 chế độ biến động gắn liền với chuyển dịch đới hội tụ (ITCZ) và gió mùa [63].
    • Tại Vũ Hán (Trung Quốc), nghiên cứu biến động PM và cacbon đen (BC) ghi nhận biến thiên theo đường parabol lõm, đạt đỉnh vào tháng Giêng và thấp nhất vào tháng 8–9 [74].
    • Tại Áo, nghiên cứu PM1, PM2.5 và PM10 tại 3 đô thị và 1 vùng nông thôn chỉ ra nồng độ mùa đông cao hơn mùa hè, biến trình ngày đêm xuất hiện 2 cực đại vào buổi sáng và buổi chiều [55].
    • Tại Tây Thái Bình Dương và Nhật Bản, nghiên cứu nồng độ CO sử dụng mô hình CHASER ghi nhận nồng độ giảm dần theo hướng Bắc - Nam và chịu ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa Đông Á cũng như cháy rừng Taiga ở Siberia [58], [59].
  • Nghiên cứu nội ngoại suy và xử lý dữ liệu khuyết:
    • Tại Iran, phương pháp Likelihood-Based kết hợp chuỗi Markov Monte Carlo và thuật toán Newton-Raphson được áp dụng để nội suy nồng độ CO tại Tehran [54].
    • Tại Malaysia, Mohamed Noor Norazian và cộng sự so sánh 3 phương pháp nội suy tuyến tính, bậc hai và bậc ba trên 8.567 giá trị quan trắc PM10, cho thấy nội suy tuyến tính đạt sai số tuyệt đối $MAE = 1,99$ và hệ số xác định $R^2 = 0,9889$ [65].
    • Tại Thái Lan, các phương pháp khai thác dữ liệu kết hợp thuật toán hồi quy được dùng để bổ khuyết số liệu PM10, CO, SO2 [66].
    • Các nghiên cứu kết hợp mô hình đơn biến và đa biến (mạng nơ-ron SOM, MLP, lân cận gần nhất NN) được thử nghiệm trên nền tảng Windows và Linux [61].
    • Hilde Fagerli (2003) dùng mô hình EMEP Unified Model 2.0 phân tích SO2 và NOx tại châu Âu [52]; Svetlana Tsyro (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình đến nồng độ bụi tại châu Âu [53].
    • Lithuania ứng dụng mô hình Gaussian và hồi quy dự báo CO trong 9 giờ tại Vilnius [77]; Mexico dùng mô hình ARIMA dự báo Ozone tại 10 khu vực [45]; Nhật Bản áp dụng hồi quy ước lượng NO2 và PM10 tại Shizuoka [69]; Tế Nam (Trung Quốc) phát triển mô hình hồi quy không gian cho SO2, NO2, PM10 tương quan với diện tích đất công nghiệp [46].

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về tính biến động:
    • Lý thuyết hàm ngẫu nhiên được ứng dụng từ cuối thế kỷ XIX trong ngành khí tượng - thủy văn nhằm lọc sai số dựa trên đường cong hàm cấu trúc [13].
    • Đề tài cấp Nhà nước mã số 7 phân tích biến trình ngày đêm và tính biến động của SO2, NO2, CO, O3, TSP dưới ảnh hưởng của nghịch nhiệt ban đêm.
    • Công trình nghiên cứu O3 mặt đất tại Hà Nội năm 2004 xác định nồng độ đạt cực đại vào 12–13 giờ [18].
    • Phân tích thống kê SO2, NO2, CO, TSP tại Trạm Láng năm 2005 cho thấy tính quy luật theo mùa [19].
    • Đề tài hợp tác quốc tế JICA tính toán biến trình ngày đêm của PM10 từ giao thông và dân sinh tại Hà Nội ghi nhận hệ số biến động từ 87% đến 90% [20].
  • Về nội ngoại suy và mô hình hóa:
    • Mô hình nội ngoại suy tối ưu các yếu tố khí tượng (tốc độ gió, áp suất, nhiệt độ) theo độ cao đạt hiệu suất 75–80% [12].
    • Đề tài tham số hóa mô hình lan truyền chất ô nhiễm tại Hà Nội đạt $R^2$ từ 0,75 đến 0,91, hiệu suất khoảng 70% nhưng bị hạn chế do giả thiết chuỗi quan trắc là quá trình dừng [16].
    • Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết rối thống kê bổ khuyết số liệu PM10 tại Trạm Láng và Trạm Nguyễn Văn Cừ đạt hiệu suất 72–87% [1].
    • Mô hình hộp đánh giá SO2, NO2, PM10 tại quận Thanh Xuân đạt dạng hàm $exp(t)$ [21]; kiểm kê phát thải nguồn giao thông theo phương pháp JICA đạt $R^2$ từ 0,79 đến 0,93 [22]; mô hình hộp cải tiến bằng đa thức bậc 4 cho kết quả $R^2 = 0,68$ với SO2 và $R^2 = 0,93$ với NOx [23].

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây khi áp dụng lý thuyết quá trình ngẫu nhiên thường giả định nồng độ chất ô nhiễm đo được là quá trình dừng, dẫn đến hiệu suất nội ngoại suy bị hạn chế. Luận án khắc phục nhược điểm này bằng cách chứng minh chuỗi nồng độ thực tế là quá trình không dừng, từ đó chuyển sang nghiên cứu đại lượng quy tâm (nhiễu động dừng) và xấp xỉ hàm cấu trúc thời gian thực nghiệm bằng dạng hàm $\ln(\tau)$ để tìm các nhân tử nội ngoại suy với độ chính xác cao.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản

  • Đại lượng ngẫu nhiên và quá trình ngẫu nhiên: Nồng độ khí CO và bụi PM10 đo đạc liên tục tại các thời điểm $t$ được xem là các đại lượng ngẫu nhiên biến đổi theo thời gian $X(t)$.
  • Các đặc trưng số: Bao gồm kỳ vọng toán học (giá trị trung bình $\bar{X}(t)$), phương sai ($D(t)$ hoặc $\sigma^2$), độ lệch chuẩn ($\sigma(t)$) và hệ số biến động ($I = \sigma/\bar{X}$).
  • Nhiễu động dừng (Đại lượng quy tâm dừng): Là hiệu giữa giá trị quan trắc thực tế tại thời điểm $t$ và giá trị trung bình tương ứng theo từng mùa nghiên cứu: $$x'(t) = x(t) - \bar{x}(t)$$
  • Đặc trưng hàm (Hàm cấu trúc thời gian): Hàm cấu trúc của quá trình ngẫu nhiên dừng được xác định qua khoảng trễ thời gian $\Delta t = \tau$: $$b(\tau) = \overline{[x'(t + \tau) - x'(t)]^2}$$

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp thống kê toán học: Tính toán các đặc trưng số theo giờ cho từng mùa. Phân chia chuỗi số liệu theo đặc điểm khí hậu từng vùng:
    • Trạm Láng: 4 mùa (Mùa xuân: tháng 2–4; Mùa hạ: tháng 5–7; Mùa thu: tháng 8–10; Mùa đông: tháng 11 đến tháng 01 năm sau).
    • Trạm Đà Nẵng: 2 mùa (Mùa khô: tháng 1–7; Mùa mưa: tháng 8–12).
    • Trạm Nhà Bè: 2 mùa (Mùa khô: tháng 12 đến tháng 4 năm sau; Mùa mưa: tháng 5–11).
  2. Phương pháp hàm cấu trúc và hồi quy: Tính toán hàm cấu trúc thực nghiệm $b(\tau)$ với khoảng trễ $\tau$ từ 1 đến 9 giờ. Sử dụng công cụ hồi quy giải tích trong Excel để xấp xỉ đường cong thực nghiệm theo hàm logarit tự nhiên: $$b(\tau) = A \ln(\tau) + B$$ Từ đó xác định khoảng dừng thực tế (khoảng bão hòa) để thiết lập hệ phương trình đại số tuyến tính.
  3. Mô hình nội ngoại suy: Thiết lập hệ phương trình ma trận dựa trên các giá trị hàm cấu trúc để tìm vector trọng số $\alpha_k$, từ đó ước lượng giá trị thiếu hụt $x'(t_0) = \sum \alpha_k x'(t_k)$ và khôi phục giá trị thực $x(t_0) = \bar{x}(t_0) + x'(t_0)$.

Quy trình thu thập và xử lý số liệu

Quy trình xử lý số liệu được chuẩn hóa qua 3 bước theo hướng dẫn của Trung tâm Quan trắc môi trường (Tổng cục Môi trường):

Bước thực hiện Nội dung chi tiết
Bước 1: Thu thập dữ liệu Thu thập chuỗi số liệu quan trắc CO, PM10; thông tin giới hạn đo, giới hạn phát hiện, độ chính xác; nhật ký bảo trì, bảo dưỡng, thay giấy lọc, bình khí chuẩn và lịch hiệu chuẩn thiết bị.
Bước 2: Loại bỏ số liệu bất thường Loại bỏ dữ liệu khi thiết bị báo lỗi, đang hiệu chuẩn, giá trị âm, vượt dải đo; đánh dấu xem xét các số liệu bằng 0 hoặc các chuỗi số liệu giữ nguyên giá trị liên tục nhiều giờ.
Bước 3: Kiểm tra tính logic So sánh giá trị quan trắc với ít nhất 10 giá trị liền trước và 10 giá trị liền sau; loại bỏ các giá trị biến động đột biến có tần suất lặp dưới 1 giờ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương I tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về biến động chất lượng không khí và các mô hình xử lý số liệu khuyết. Tác giả đồng thời mô tả đặc điểm địa lý, khí hậu và hiện trạng chất lượng môi trường không khí tại 3 khu vực đặt trạm quan trắc tự động cố định:

  • Trạm Láng (Hà Nội): Đưa vào hoạt động từ tháng 9/2002, vận hành 24/24h với 4 kỹ sư (3 ca/ngày). Khu vực chịu áp lực lớn từ giao thông và xây dựng. Nồng độ bụi TSP tại các trục đường nội thành vượt tiêu chuẩn 2–4 lần; nồng độ CO tại các điểm giao thông giờ cao điểm vượt 2,5 lần; SO2 phát thải toàn thành phố tăng từ 7.000 tấn (năm 1996) lên 9.000 tấn (năm 2006); NO2 tăng bình quân 40–60%/năm giai đoạn 2000–2006.
  • Trạm Đà Nẵng: Đưa vào hoạt động từ tháng 9/2002, biên chế 8 người (4 kỹ sư, 4 trung cấp). Nồng độ CO, SO2, NO2 nhìn chung nằm trong giới hạn QCVN 05:2009/BTNMT. Ô nhiễm chủ yếu là bụi tổng (vượt 0,06–3,67 lần tại ngã tư Ngô Quyền - Phạm Văn Đồng, ngã ba Huế, ngã ba Non Nước) và tiếng ồn (85–110 dBA tại làng đá Non Nước, vượt tiêu chuẩn 85 dBA).
  • Trạm Nhà Bè (TP. Hồ Chí Minh): Đưa vào hoạt động từ tháng 9/2002, biên chế 3 kỹ sư. Trạm chịu ảnh hưởng từ đường Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Tạo, KCN Hiệp Phước (cách 1,5 km), các nhà máy xi măng và nhiệt điện. Nồng độ bụi vượt chuẩn 1,24–2,59 lần (ngã tư An Sương vượt 4,8 lần, đạt 1,443 mg/m³). Bụi mịn dưới 2,1 µm mang tính axit chiếm 50% tổng lượng bụi trong mùa khô và 20% trong mùa mưa.

Chương II: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương II trình bày cơ sở toán học của quá trình ngẫu nhiên, phương pháp phân tách chuỗi dữ liệu thành thành phần biến trình ngày đêm trung bình mùa $\bar{x}(t)$ và thành phần nhiễu động ngẫu nhiên $x'(t)$.

Nội dung chương xây dựng công thức tính toán hàm cấu trúc thời gian thực nghiệm $b(\tau)$, phương pháp hồi quy hàm logarit $b(\tau) = A \ln(\tau) + B$, và thiết lập hệ phương trình đại số tuyến tính xác định các trọng số nội ngoại suy $\alpha_k$. Chương này cũng chi tiết hóa quy trình 3 bước xử lý dữ liệu trước khi đưa vào mô hình tính toán.

Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương III tập trung phân tích kết quả tính toán thực nghiệm và kiểm định mô hình nội ngoại suy:

  1. Phân tích đặc trưng số của CO và PM10: Biến trình ngày đêm của CO và PM10 tại 3 trạm đều thể hiện 2 đỉnh cực đại tương ứng với các khung giờ cao điểm giao thông (7h–9h sáng và 17h–19h chiều), kết hợp tác động của tầng kết nhiệt khí quyển (nghịch nhiệt bức xạ ban đêm kìm hãm sự phát tán chất ô nhiễm). Các giá trị phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến động thay đổi theo giờ và theo mùa, chứng minh chuỗi nồng độ thực tế là quá trình không dừng.
  2. Xây dựng hàm cấu trúc thực nghiệm của nhiễu động dừng: Hàm cấu trúc thời gian của đại lượng quy tâm $x'(t)$ đối với CO và PM10 tại cả 3 trạm đều có xu hướng tăng đơn điệu theo khoảng trễ $\tau$ ($\tau = 1 \div 9$) và đạt trạng thái bão hòa ổn định. Đường cong thực nghiệm phù hợp với dạng hàm hồi quy $\ln(\tau)$, chứng minh nhiễu động $x'(t)$ là quá trình ngẫu nhiên dừng.
  3. Ứng dụng mô hình bổ khuyết dữ liệu: Mô hình được thử nghiệm cho các tình huống khuyết thiếu dữ liệu khác nhau:
    • Thiếu hụt một vài giá trị rời rạc trong khoảng 6 số liệu (nội suy).
    • Thiếu hụt liên tiếp 6 giá trị (ngoại suy).
    • Kiểm định trên chuỗi dữ liệu thực nghiệm tại Trạm Láng (ngày 09/9/2005, 15/4/2006, 06/12/2007, 01/3/2008, 10/4/2008), Trạm Đà Nẵng (ngày 10/02/2005, 02/3/2005, 12/4/2005, 28/01/2007) và Trạm Nhà Bè (ngày 10/01/2006, 26/3/2006, 06/4/2006). Kết quả tính toán cho thấy hiệu suất mô hình đạt từ 75% đến 99,99%.
    • Mở rộng ứng dụng: Sử dụng bộ hệ số $\alpha_k$ cơ sở để bổ khuyết dữ liệu cho các năm khác tại cùng trạm và thử nghiệm cho Trạm quan trắc Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) vào tháng 5/2015 cho kết quả tương thích tốt.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

  1. Đóng góp lý luận: Phân tích một cách hệ thống các đặc trưng số (trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến động) và đặc trưng hàm (hàm cấu trúc) của CO và PM10 tại 3 trạm quan trắc đại diện cho 3 miền khí hậu. Luận án giải thích cơ chế ảnh hưởng của yếu tố khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, gió, mưa, bức xạ) và tầng kết nhiệt khí quyển gần mặt đất làm phá vỡ tính dừng của chuỗi nồng độ, khẳng định các chuỗi số liệu đo đạc trực tiếp là các quá trình ngẫu nhiên không dừng.
  2. Đóng góp phương pháp: Lần đầu tiên tại Việt Nam, tác giả đề xuất áp dụng quá trình ngẫu nhiên quy tâm (nhiễu động dừng) trong nghiên cứu môi trường không khí. Luận án đã xây dựng thành công hàm cấu trúc thực nghiệm của nhiễu động dừng theo khoảng trễ thời gian $\tau$ cho CO và PM10 theo từng mùa cụ thể tại 3 trạm nghiên cứu.
  3. Đóng góp ứng dụng: Sử dụng phương pháp hồi quy hàm $\ln(\tau)$ để xác định khoảng dừng thực tế, giải hệ phương trình tìm bộ nhân tử nội ngoại suy $\alpha_k$. Mô hình bổ khuyết số liệu thiếu hụt đạt hiệu suất cao (75% – 99,99%), có khả năng áp dụng cho các thời điểm khác nhau và các trạm lân cận trong cùng khu vực.

Các đề xuất và giải pháp

  • Nhóm giải pháp kỹ thuật:
    • Áp dụng quy trình chuẩn 3 bước để kiểm tra, làm sạch và loại bỏ sai số dữ liệu quan trắc tự động.
    • Ứng dụng thuật toán nội ngoại suy nhiễu động dừng để tự động hóa việc tính toán bổ khuyết các khoảng dữ liệu bị khuyết thiếu trước khi tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia.
  • Nhóm giải pháp quản lý:
    • Hoàn thiện chế độ vận hành, bảo dưỡng định kỳ và kiểm định thiết bị cho hệ thống trạm quan trắc tự động cố định.
    • Tăng cường kinh phí và chuẩn hóa nguồn nhân lực vận hành trạm (bố trí kỹ sư chuyên trách trực 3 ca/ngày).
    • Kết nối và chia sẻ dữ liệu liên tục giữa các trạm địa phương và Trung tâm điều hành tại Trung ương theo quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu mới tập trung vào 02 thông số chính là khí CO và bụi PM10 tại 03 trạm quan trắc tự động cố định đại diện (Láng, Đà Nẵng, Nhà Bè) và một điểm thử nghiệm mở rộng (Trạm Nguyễn Văn Cừ).
  • Nguồn số liệu nghiên cứu cơ sở tập trung trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010; việc tính toán phụ thuộc vào tính đầy đủ và ổn định của chuỗi dữ liệu nền dùng để xác định các đặc trưng mùa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và kiểm định mô hình nội ngoại suy nhiễu động dừng cho các thông số ô nhiễm không khí khác như SO2, NO2, NOx, O3 và bụi PM2.5.
  • Ứng dụng thử nghiệm phương pháp trên toàn bộ mạng lưới các trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định mới được đầu tư xây dựng trên phạm vi cả nước.
  • Kết hợp mô hình nội ngoại suy theo thời gian với các mô hình lan truyền không gian nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm ô nhiễm không khí đô thị.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường: Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Chi cục Bảo vệ môi trường tại các tỉnh, thành phố có cơ sở khoa học để đánh giá hiện trạng mạng lưới trạm và ban hành quy định kỹ thuật về xử lý số liệu quan trắc.
  • Quan trắc viên và cán bộ kỹ thuật tại các trạm quan trắc: Sử dụng quy trình 3 bước xử lý số liệu và thuật toán bổ khuyết dữ liệu thiếu hụt trong Chương II và Chương III để hoàn thiện bộ dữ liệu đo đạc liên tục phục vụ báo cáo chất lượng không khí.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo khung phương pháp luận ứng dụng lý thuyết quá trình ngẫu nhiên, phương pháp hàm cấu trúc và kỹ thuật hồi quy phi tuyến trong xử lý chuỗi số liệu môi trường và khí tượng thủy văn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chuỗi số liệu nồng độ CO và PM10 quan trắc thực tế không được xem là quá trình ngẫu nhiên dừng?

Theo kết quả phân tích tại Chương III, nồng độ CO và PM10 đo đạc thực tế có các đặc trưng số (giá trị trung bình theo giờ, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến động) biến đổi liên tục theo thời gian trong ngày và theo mùa trong năm. Nồng độ chất ô nhiễm chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố khí tượng (gió, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, mưa) và trạng thái ổn định khí quyển (đặc biệt là hiện tượng nghịch nhiệt bức xạ ban đêm). Do kỳ vọng toán học và phương sai phụ thuộc vào thời gian $t$, chuỗi dữ liệu thực tế là quá trình không dừng.

2. Khái niệm "nhiễu động dừng" được định nghĩa và tính toán như thế nào trong luận án?

Nhiễu động dừng (đại lượng quy tâm dừng), ký hiệu là $x'(t)$, là phần chênh lệch giữa giá trị nồng độ quan trắc thực tế $x(t)$ tại thời điểm $t$ (lúc 1h, 2h,..., 24h) trừ đi giá trị nồng độ trung bình nhiều năm tương ứng của giờ đó theo từng mùa nghiên cứu $\bar{x}(t)$: $$x'(t) = x(t) - \bar{x}(t)$$ Khi loại bỏ thành phần biến trình ngày đêm có tính quy luật $\bar{x}(t)$, chuỗi sai số $x'(t)$ trở thành quá trình ngẫu nhiên quy tâm có tính chất dừng, cho phép áp dụng lý thuyết hàm cấu trúc thời gian để tính toán nội ngoại suy.

3. Chuỗi số liệu tại các trạm Láng, Đà Nẵng và Nhà Bè được phân chia theo mùa như thế nào?

Căn cứ vào đặc điểm khí hậu từng khu vực địa lý, chuỗi số liệu được phân chia như sau:

  • Trạm Láng (Hà Nội): Chia làm 4 mùa gồm Mùa xuân (tháng 2 đến tháng 4), Mùa hạ (tháng 5 đến tháng 7), Mùa thu (tháng 8 đến tháng 10) và Mùa đông (tháng 11 đến tháng 01 năm sau).
  • Trạm Đà Nẵng (Đà Nẵng): Chia làm 2 mùa gồm Mùa khô (tháng 01 đến tháng 7) và Mùa mưa (tháng 8 đến tháng 12).
  • Trạm Nhà Bè (TP. Hồ Chí Minh): Chia làm 2 mùa gồm Mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau) và Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11).

4. Dạng hàm toán học nào được dùng để xấp xỉ hàm cấu trúc thực nghiệm và hiệu suất mô hình đạt được là bao nhiêu?

Hàm cấu trúc thực nghiệm của nhiễu động dừng $b(\tau)$ với khoảng trễ $\tau = 1 \div 9$ giờ được xấp xỉ bằng phương pháp hồi quy giải tích theo dạng hàm logarit tự nhiên: $$b(\tau) = A \ln(\tau) + B$$ Dạng hàm này cho phép xác định chính xác khoảng bão hòa của quá trình dừng để giải hệ phương trình tìm các hệ số trọng số $\alpha_k$. Hiệu suất bổ khuyết số liệu của mô hình khi thử nghiệm trên các chuỗi dữ liệu CO và PM10 tại 3 trạm đạt độ chính xác từ 75% đến 99,99%.

5. Quy trình 3 bước xử lý số liệu quan trắc trước khi đưa vào mô hình gồm những thao tác nào?

  • Bước 1: Thu thập dữ liệu đo, kiểm tra thông số thiết bị, giới hạn phát hiện, nhật ký vận hành và lịch hiệu chuẩn.
  • Bước 2: Loại bỏ dữ liệu lỗi thiết bị, dữ liệu hiệu chuẩn, giá trị âm, giá trị vượt dải đo; đánh dấu xem xét các số liệu bằng 0 hoặc không đổi trong nhiều giờ.
  • Bước 3: So sánh mỗi giá trị đo với tối thiểu 10 giá trị liền trước và 10 giá trị liền sau để loại bỏ các điểm dị biệt đột biến có chu kỳ xuất hiện dưới 1 giờ.

Kết luận

Luận án của tác giả Trần Thị Thu Hường đã giải quyết bài toán xử lý dữ liệu thiếu hụt tại các trạm quan trắc môi trường không khí tự động cố định ở Việt Nam thông qua việc kết hợp lý thuyết quá trình ngẫu nhiên và phương pháp hồi quy thực nghiệm. Bằng cách chứng minh chuỗi nồng độ thực tế là quá trình không dừng và chuyển đổi thành công sang bài toán nhiễu động dừng quy tâm, công trình đã xây dựng được hàm cấu trúc thời gian và mô hình nội ngoại suy đạt hiệu suất cao từ 75% đến 99,99% cho hai thông số CO và PM10. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và công cụ tính toán phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, giám sát và cảnh báo chất lượng không khí tại các đô thị lớn trên phạm vi cả nước.