Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hoạt động sản xuất xi măng 1. Hoạt động sản xuất và tiêu thụ xi măng ở nước ta Xi măng là một trong những ngành công nghiệp được hình thành sớm nhất ở nước ta (cùng với các ngành than, dệt, đường sắt). Ngày 25/12/1889 khởi công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên của ngành Xi măng Việt Nam tại Hải Phòng.
Đến nay đã có khoảng 90 Công ty, đơn vị tham gia trực tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất xi măng trong cả nước, trong đó: Khoảng 33 thành viên thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam, 5 công ty liên doanh, và hơn 50 công ty nhỏ và các trạm nghiền (Công ty cổ phần công nghệ IP, 2008) [23]. Trong những năm qua ngành xi măng đóng góp một phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trung bình từ 10% - 12% GDP. Vì thế Chính phủ xác định Xi măng là ngành phát triển chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế. Năm 2009 toàn ngành công nghiệp xi măng đã sản xuất và tiêu thụ 45,5 triệu tấn xi măng, tăng 11,4% so với năm 2008, nhập khẩu 3,4 triệu tấn clinker.
Năm 2011 toàn ngành công nghiệp xi măng đã sản xuất và tiêu thụ 49,3 triệu tấn xi măng, nhập khẩu 1,15 triệu tấn clinker, xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn clinker và xi măng. Căn cứ theo dự bán kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2010 và các chính sách đầu tư phát triển, Bộ Xây Dựng đã tính toán nhu cầu xi măng năm 2012 khoảng 55 - 56,6 triệu tấn, tăng 11 - 12% so với năm 2011 (Hiệp hội xi măng Việt Nam, 2010) [25]. - Năng lực sản xuất và các yếu tổ ảnh hưởng tới sản xuất của doanh nghiệp trong ngành. Trong những năm gần đây, một số nhà máy sản xuất xi măng lớn tập trung nhiều vào thị trường trong nước do thị trường này đang tăng trưởng mạnh mẽ.
Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hiện nay đã có khoảng 14 nhà máy xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế là 21,5 triệu tấn/năm, 55 cơ sở xi măng lò đứng, 5 lò quay chuyển đổi tổng công suất thiết kế 6 triệu tấn/năm, khoảng 18 triệu tấn xi măng được sản xuất từ nguồn clinker trong nước (ứng với 14,41 triệu tấn clinker). Hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng sử dụng phương pháp kỹ thuật khô, ngoại trừ những nhà máy có lò trộn xi măng đứng với thiết bị và kỹ thuật lạc hậu, thì những nhà máy còn lại có năng suất trộn xi măng từ 1,4 triệu đến 2,3 triệu tấn mỗi năm với thiết bị và trình độ kỹ thuật tương đương với những nhà máy khác ở Đông Nam Á. Việt Nam đang có khoảng 31 dự án xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế là 39 triệu tấn được phân bổ ở nhiều vùng trên cả nước. Hiện nay các nhà máy xi măng phân bố không đều giữa các khu vực.
Hầu hết các nhà máy tập trung nhiều tại miền Bắc nơi có vùng nguyên liệu đầu vào lớn, trong khi đó các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế. Do đó nguồn cung xi măng ở phía Bắc thì dư thừa trong khi miền Nam lại thiếu hụt (Công ty cổ phần công nghệ IP, 2008) [23]. - Những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp: + Các DN miền Bắc có vị trí địa lý thuận lợi cho việc khai thác nguyên vật liệu đầu vào do đó chủ động được về năng lực sản xuất. Doanh nghiệp miền Nam thì ngược lại.
+ Giá than đá, thạch cao và clinker những nguyên liệu đầu vào chính dùng cho sản xuất xi măng vẫn tăng đều qua các năm. Mà những nguyên liệu đầu vào này Việt Nam phải nhập khẩu với khối lượng rất lớn. Ngoài ra giá gas, dầu hiện nay biến động ảnh hưởng tới cước phí vận chuyển tăng. Ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và kết quả hoạt động của ngành.
+ Trình độ công nghệ của ngành lạc hậu cũ kỹ thừa hưởng của Nga, Pháp, Trung Quốc những năm 50 của thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng. Hiện này với các dự án dây chuyền, nhà máy xi măng lớn đang triển khai hy vọng sẽ thay thế công nghệ cũ, giúp năng lực sản xuất được tăng lên gấp nhiều lần. 6 + Tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu vào máy móc thiết bị ngành xi măng là rất lớn, đó là sức ép đối với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khi muốn gia tăng công suất, đổi mới công nghệ (Công ty cổ phần công nghệ IP, 2008) [23]. - Thị trường, thị phần và các yếu tố ảnh hưởng: + Hiện nay trên thị trường giá bán xi măng của các doanh nghiệp Miền Bắc thường thấp hơn giá bán xi măng của các doanh nghiệp Miền Nam khoảng 200.000 đồng/ tấn tùy từng loại dao động xung quanh mức chênh lệch này.
Tại sao có mức khác biệt này: như đã nêu ở trên, các doanh nghiệp phân bố không đều giữa các miền, giá đầu vào của nguyên vật liệu, cước phí vận chuyển, tổng nhu cầu xi măng tại miền Nam chiếm tới 40% tổng nhu cầu trong khi các doanh nghiệp miền Nam chỉ đáp ứng được 50% tổng nhu cầu đó. + Ngoài ra do xi măng là ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nên Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm soát giá cả, giá cả bị chặn đầu ra – nhưng giá nguyên liệu đầu vào không ngừng xu thế tăng lên. Đó là khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp sản xuất trong ngành. + Thị phần tiêu thụ lớn nhất thuộc về Tổng công ty Xi măng Việt Nam chiếm khoảng 40% toàn thị trường – Thị phần tiêu thụ xi măng trong 04 tháng đầu năm 2008 con số này là 41,1%.
Các doanh nghiệp lớn trong ngành đều thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam như: Hà Tiên 1, 2, Xi măng Hoàng Thạch, Xi măng Hải Phòng….hơn 33 đơn vị gồm công ty con, công ty cổ phần - tổng công ty nắm quyền chi phối, công ty liên doanh liên kết (Công ty cổ phần công nghệ IP, 2008) [23]. Nhìn chung, thị trường xi măng Việt Nam đến năm 2010 ổn định về cung cầu và giá cả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Năm 2010, khối lượng xi măng sản xuất đạt 53,20 triệu tấn, tổng lượng tiêu thụ đạt 50,20 triệu tấn, tổng lượng nhập clinker khoảng 2,15 triệu tấn với tổng trị giá khoảng 81 triệu USD, giá clinker nhập khẩu bình quân 38 USD/tấn (Hiệp hội xi măng Việt Nam, 2011) [25]. Hoạt động sản xuất xi măng tại Thái Nguyên Theo thống kê, năm 2012 cả nước có thêm 4 nhà máy xi măng đi vào hoạt động, nâng dây chuyền lò quay công nghệ khô lên con số 60, bên cạnh 38 dây 7 chuyền lò đứng công nghệ bán khô.
Trong khi đó, nhu cầu được dự báo là không tăng mạnh, do đó dẫn tới cung vượt cầu và việc cạnh tranh để bán sản phẩm giữa các doanh nghiệp sản xuất xi măng ngày càng khốc liệt. Mặc dù vậy, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các doanh nghiệp sản xuất xi măng vẫn duy trì được mức tăng trưởng ổn định với đa số các dây truyền đều chạy hết công suất (Thainguyentv, 2012) [27]. Những tháng đầu năm thường khó khăn đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng do không phải mùa xây dựng. Tuy nhiên, những tháng đầu năm nay, quy luật ấy dường như không ảnh hưởng nhiều đến các đơn vị xản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.000 tấn là con số mà Công ty TNHH Một thành viên xi măng Quang Sơn tiêu thụ trong tháng 3/2012.
Con số này tương đương với việc tiêu thụ xi măng vào những tháng cuối năm, khi mà thị trường xây dựng thực sự sôi động. Các sản phẩm của công ty đã có mặt ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và tiêu thụ mạnh nhất tại thị trường Hà Nội. Riêng tại thị trường Thái Nguyên, trong quý I/2012, công ty đã tiêu thụ trên 15.000 tấn, tăng 150% so với cùng kỳ năm trước. Đến thời điểm này, công ty hầu như không còn hàng tồn kho, sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó.
Cùng chung những tín hiệu lạc quan như xi măng Quang Sơn, ngay trong quý I, Công ty cổ phần xi măng Quan Triều cũng đang chạy hết công suất với mức tiêu thụ 1.350 tấn trong quý I. Công ty cổ phần xi măng La Hiên cũng đã tiêu thụ được 180.000 tấn và theo lãnh đạo nhà máy cho biết, hiện tại xi măng sản xuất ra không kịp bán. Theo dự báo thì lượng xi măng trong năm 2012 sẽ dư thừa khoảng 8 – 10 triệu tấn, khiến thị trường xi măng vốn đã cạnh tranh nay càng khốc liệt thêm. Không những thế, cuộc chiến tiêu thụ giữa các thương hiệu xi măng và các đại lý, nhà phân phối… cũng sẽ thêm phần quyết liệt.
Tuy nhiên, đứng trước bài toán cạnh tranh nan giải, mỗi đơn vị sản xuất xi măng trên địa bàn Thái Nguyên phải tìm hướng đi cho riêng mình, bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, chuyên nghiệp hơn trong dịch vụ chăm sóc khách hàng, cạnh tranh sòng phẳng về giá cũng như tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh để ngành sản xuất xi măng Thái Nguyên được 8 người tiêu dùng trong nước lựa chọn và từng bước vươn ra thị trường thế giới (Hiệp hội xi măng Việt Nam,2012) [26]. Ô nhiễm môi trường không khí do các hoạt động sản xuất xi măng tại Thái Nguyên Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các hoạt động công nghiệp chủ yếu gồm: khai khoáng, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng,. Các hoạt động sản xuất công nghiệp là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí. Hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng: Điển hình là các cơ sở sản xuất xi măng với công nghệ lò đứng lạc hậu (xi măng Lưu Xá, xi măng Cao Ngạn, xi măng Núi Voi, 02 lò đứng xi măng La Hiên) không có hệ thống xử lý bụi, khí thải đã gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường xung quanh.
Các cơ sở công nghiệp thường dùng nhiên liệu hoá thạch (than, dầu) làm nhiên liệu đốt nên thải ra nhiều chất gây ô nhiễm môi trường không khí. Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng là các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí cục bộ.