Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây đậu tương 1. Nguồn gốc và phân loại đậu tương Cây đậu tương là một loài thực vật thuộc họ Đậu (Fabaceae), bộ Fabales là một trong những cây trồng xuất hiện sớm nhất cùng với nền văn minh của nhân loại.
Năm 1948, Ricker và Morse đã khẳng định danh pháp La tinh chính xác của đậu tương là Glycine max (L) Merrill. Chi phụ soja có hai loài Glycine max (L.) Merrill và Glycine soja Sieb et Zucc.) Merrill là cây trồng hàng năm, không phát hiện thấy loài hoang dại. Nó có nguồn gốc từ vùng Mãn Châu (Trung Quốc); xuất phát từ một loài đậu nành dại thân mảnh, dạng dây leo, ít phân nhánh, dạng bụi, xẻ lá chét lông chim, phiến lá hình ô van, chùm hoa có cuống ngắn, hoa tím hoặc trắng, quả thẳng hoặc cong, thường có nhiều lông. Mỗi quả thường có ba hạt hình tròn hoặc cầu.
Vỏ hạt có màu sắc biến đổi từ vàng sáng đến nâu, đen, xanh. Khối lượng của hạt dao động từ 10 g đến 20 g. Đặc điểm thực vật học của cây đậu tương Về hình thái, rễ đậu tương là rễ cọc, trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ cấp 2, cấp 3 tập trung nhiều ở tầng đất 7-8 cm rộng 30-40 cm2. Trên rễ chính và phụ có nhiều nốt sần.
Bộ rễ phân bố nông sâu, rộng hẹp, số lượng nốt sần ít hay nhiều phụ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu và kỹ thuật trồng. Thân cây đậu tương thuộc loại thân thảo, trên thân có nhiều lông tơ ngắn bao phủ. Thân còn non có màu xanh hoặc màu tím khi về già chuyển sang màu nâu nhạt, màu sắc của thân có liên quan chặt chẽ đến màu sắc của hoa sau này. Một số giống có mật độ lông tơ dày, màu sẫm có sức kháng bệnh, chịu hạn và chịu rét khỏe.
Thực tế cũng có giống không có lông tơ, những giống này thường sinh trưởng không bình thường, sức chống chịu kém. 5 Thân có lông tơ nhiều hay ít, dài hay ngắn, dày hay thưa là một đặc điểm để phân biệt giữa các giống với nhau. Lá đậu tương gồm 3 loại: lá mầm, lá đơn và lá kép. Lá mầm lúc mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp xúc với ánh sáng thì chuyển sang màu xanh.
Lá đơn mọc đối xứng nhau, xuất hiện sau khi cây mọc từ 2-3 ngày và mọc phía trên lá mầm. Lá kép có 3 lá chét, mọc so le. Lá kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu. Hoa đậu tương thường có màu tím.
Hoa phát sinh ở nách lá, đầu cành và đầu thân. Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có 1-10 hoa và thường có 3-5 hoa. Hoa đậu tương thuộc loại hoa lưỡng tính, tiền khai hoa cờ, được cấu tạo bởi 5 lá đài, 5 cánh hoa, 10 nhị và 1 nhụy bầu trên. Quả có thể thẳng hoặc cong, có nhiều lông.
Số quả biến động từ 2-20 quả ở mỗi chùm hoa và có thể đạt tới 400 quả trên một cây. Một quả chứa từ 1-5 hạt, hầu hết từ 2-3 hạt. Quả có màu sắc biến đổi từ vàng trắng tới vàng sẫm, nâu hoặc đen. Lúc còn non, quả có màu xanh nhiều lông khi chín có màu nâu.
Hạt có nhiều hình dạng khác nhau: tròn, bầu dục,. Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của cây đậu tương, người ta chia làm 3 loại: chín sớm (75-85 ngày), trung bình (80-100 ngày), muộn (110-120 ngày). Thời gian sinh trưởng là một yếu tố quan trọng để lựa chọn cây trồng luân canh tăng vụ [7]. Giá trị sử dụng của cây đậu tương 1.
Thành phần dinh dưỡng của đậu tương Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, gồm có protein, lipit, hydratcacbon và các chất khoáng.