Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây đậu xanh 1. Nguồn gốc và phân loại đậu xanh Đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, được phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới trong đó chủ yếu là ở các nước Đông và Nam Á.
Hiện nay các nhà khoa học đã tìm thấy tổ tiên của cây đậu xanh là phân loài Vigna radiata var. Sublobata còn mọc hoang dại ở Mông Cổ. Điều đó cho biết Mông Cổ cũng là nơi đã thuần hóa loài cây đậu xanh từ lâu đời [11]. Ở châu Á cây đậu xanh được trồng nhiều ở các quốc gia như: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào, Philippines, Malaysia và Indonesia.
Sau này cây đậu xanh còn được trồng ở Trung Phi, các vùng khô và nóng ở Nam Âu, phía Đông Bắc châu Úc, Nam Mỹ và miền Nam Hoa Kỳ. Ở Việt Nam đậu xanh được trồng khắp cả nước từ Bắc vào Nam. Đây là loài cây rau và thực phẩm quan trọng và là một loại đậu có giá trị đặc biệt trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Phân loại khoa học của cây đậu xanh: - Giới (regnum): Plantae - Ngành (division): Magnolyophita - Lớp (class): Magnolyopsida - Bộ (order): Fabales - Họ (Familia): Fabaceae - Chi (genus): Vigna - Loài (species): V.
radiata 5 Chi Vigna là một trong những chi lớn trong họ Đậu, bao gồm khoảng 150 loài thuộc 7 chi phụ là Vigna; Plectotropis; Ceratotropis; Lasionspron; Sigmoidotropis; Haydonia; Macrohynchus, trong đó đậu xanh là một trong số 16 loài của phân chi Ceratotropi [11]. Đặc điểm thực vật học của cây đậu xanh Cây đậu xanh thuộc loại cây thân thảo, là loại cây trồng cạn thu quả và hạt. Rễ đậu xanh thuộc loại rễ cọc bao gồm rễ chính và các rễ phụ. Rễ chính thường ăn sâu khoảng 20 - 30 cm, trong điều kiện thuận lợi có thể ăn sâu tới 70 - 100 cm.
Rễ phụ thường gồm 30 - 40 cái, dài khoảng 20 - 25 cm. Trên rễ phụ có nhiều lông hút do biểu bì rễ biến đổi thành, có vai trò tăng cường sức hút nước và các chất dinh dưỡng cho cây. Tuy nhiên, bộ rễ của cây đậu xanh yếu hơn nhiều so với các cây đậu đỗ khác nên khả năng chịu hạn và chịu úng của cây đậu xanh tương đối kém [9]. Trên rễ cây họ Đậu có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm Rhizobium.
Các nốt sần trên rễ bắt đầu hình thành khi cây có 2 - 3 lá thật và đạt tối đa khi cây ra hoa rộ. Trên mỗi cây có khoảng 10 - 20 nốt sần, tập trung chủ yếu ở cổ rễ. Kích thước của các nốt sần không giống nhau, đường kính dao động từ 4 - 5 mm, so với peroxidase và lạc thì nốt sần của cây đậu xanh ít và nhỏ hơn. Trung bình mỗi vụ, 1 ha đậu xanh có thể bù lại cho đất tương ứng 85 - 107 kg nitơ, làm cho đất tơi xốp hơn.
Thân cây đậu xanh thuộc loại thân thảo, hình trụ, phân đốt, cao khoảng 40 - 70 cm. Thân xanh hoặc tím đỏ tùy thuộc vào giống. Trên thân có lông phủ, nhất là ở phần thân non. Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân từ ngày thứ 20 đến khi ra hoa, quả tương đối ổn định, có thể đạt từ 1-1,5 cm/ngày.
Đậu xanh thường có 2-4 cành, tùy thuộc ở giống và điều kiện canh tác. 6 Lá cây đậu xanh thuộc loại lá kép, có 3 lá chét, có lông hai mặt. Trên mỗi thân chính có 7-8 lá thật. Diện tích của các lá tăng dần từ dưới lên, các lá mọc ở giữa thân rồi lại giảm dần lên phía ngọn.
Số lượng lá, kích thước, hình dạng và chỉ số diện tích lá thay đổi tuỳ thuộc vào giống, đất trồng và thời vụ. Hoa đậu xanh là loại hoa lưỡng tính, tự thụ phấn, mọc thành chùm to ở nách lá. Đậu xanh bắt đầu nở hoa khoảng 40-45 ngày sau khi gieo (vụ xuân) và 30 -35 ngày (vụ hè). Thời gian ra hoa kéo dài, liên tục khoảng 15-40 ngày tùy giống và điều kiện canh tác [5].
Quả đậu xanh có dạng hình trụ, dạng tròn hoặc dạng dẹt với đường kính 4 - 6 mm, dài 8 - 14 cm, khi chín vỏ quả có màu nâu vàng hoặc xám đen, đen. Quả xuất hiện 1-2 ngày sau khi hoa nở và đã có độ dài 1-1,5 cm. Quả lớn nhanh trong khoảng 5-7 ngày đầu và đạt kích thước tối đa vào khoảng 8- 10 ngày sau khi hoa nở. Hạt có hình tròn, hình trụ, hình ô van, hình thoi.
và có nhiều màu sắc khác nhau như màu xanh mốc, xanh bóng, xanh nâu, vàng mốc, vàng bóng … Trọng lượng hạt của mỗi cây biến động lớn từ 20 - 90 gam tùy giống, thời vụ và chế độ canh tác. Đậu xanh là một loại cây thực phẩm ngắn ngày có khả năng thích ứng rộng trên nhiều vùng, miền khác nhau, thời gian sinh trưởng chỉ khoảng 65-70 ngày [11]. Giá trị sử dụng của cây đậu xanh 1. Thành phần dinh dưỡng của đậu xanh Hạt đậu xanh có thành phần dinh dưỡng cao, chứa 23 - 28% protein, 1,3% lipid, 56 - 60% gluxit, 12% nước, các vitamin B1, B2, C, PP… các muối khoáng như Ca, Na, Fe, K … Protein thực vật nói chung và protein đậu xanh nói riêng là nguồn cung cấp đạm dễ tiêu hoá cho con người và một số vật nuôi.
Trong hạt đậu xanh, protein được chia thành hai nhóm: nhóm protein 7 đơn giản và nhóm protein phức tạp. Trong nhóm protein đơn giản chủ yếu là globulin, chiếm từ 60 - 80%, còn lại là albumin và một số loại khác. Chức năng chính của protein dự trữ là cung cấp axit amin và nitơ cho quá trình nảy mầm của hạt. Protein đậu xanh được đánh giá là có chất lượng tốt do có chứa đầy đủ các axit amin không thay thế.
Hàm lượng lipit trong hạt đậu xanh chiếm tỷ lệ thấp (trung bình khoảng 1,3% nhưng đó lại là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá phẩm chất và khả năng bảo quản hạt [11], [26]. Giá trị sử dụng của đậu xanh Đậu xanh được sử dụng rộng rãi với nhiều cách chế biến khác nhau. Từ xưa đậu xanh đã được người dân Việt sử dụng trong chế biến các loại bánh truyền thống như bánh chưng, bánh tét, bánh ít. hay sử dụng để nấu chè, nấu xôi, nấu cháo, làm rau mầm, làm bột thức ăn cho trẻ sơ sinh, bột đậu xanh hòa tan giải khát.
Đậu xanh còn được người ta sử dụng như là dược liệu dùng để giải độc, giải nhiệt, bồi bổ sức khỏe. Lá non và ngọn của cây đậu xanh có thể được dùng để làm rau, muối dưa. Thân, lá xanh có thể dùng làm thức ăn cho vật nuôi. Cây đậu xanh còn có tác dụng cải tạo đất.
Hệ rễ đậu xanh có các nốt sần chứa các vi khuẩn cộng sinh thuộc chi Rhizobium có khả năng cố định nitơ từ khí trời, cung cấp một phần đạm cho cây và để lại lượng đạm đáng kể trong đất sau khi thu hoạch. Vì vậy, đất sau khi trồng đậu xanh sẽ trở nên tơi xốp và giàu dinh dưỡng hơn [13]. Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới và Việt nam 1. Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ ( FAOSTAT ), tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới ngày càng tăng về năng suất và diện tích trồng trọt.
Đặc biệt, trong những năm gần đây do nhu cầu của con người về dinh dưỡng protein thực vật tăng nhanh đã làm thúc đẩy việc sản xuất đậu xanh trên thế giới. 8 Năm 1994 diện tích trồng đậu xanh của toàn thế giới là 1.030 ha và sản lượng là 6.021 tấn đến năm 2017 thì diện tích trồng là 1.971 ha và sản lượng là 24. Đậu xanh được trồng khắp nơi trên thế giới trong đó phổ biến nhất là châu Á, chiếm 88% tổng diện tích trồng đậu xanh trên thế giới, rồi đến châu Âu chiếm 6,1 %, châu Phi chiếm 3,6 %, Châu Mỹ chiếm 2,1%, châu Đại Dương 0,3% [42]. Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam Đậu xanh là một trong ba loại cây đậu đỗ chính: lạc, peroxidase, đậu xanh.
Đậu xanh của nước ta sản xuất ra chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước như làm rau, làm bánh. Các sản phẩm làm từ đậu xanh rất phong phú, nhưng hiện nay chỉ có một số ít sản phẩm có chất lượng ổn định và có thương hiệu lâu năm trên thị trường. Trồng đậu xanh đã trở thành tập quán ở nhiều vùng. Gần đây, do có những giống mới có năng suất cao, do nhu cầu thâm canh, cải tạo đất ngày càng cao, cho nên đậu xanh đang được phát triển rộng trong các cơ cấu cây trồng ở nhiều tỉnh trên địa bàn cả nước.
Từ năm 1991 - 1995 năng suất sản xuất đậu xanh bình quân đạt khoảng 5,5 - 12 tạ/ha. Từ 1996 - 2000 năng suất dao động trong khoảng 15 - 20 tạ/ha. Đến năm 2000, Việt Nam có diện tích và sản lượng đậu xanh đứng thứ 6 trên thế giới. Ngày nay, đậu xanh có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng do nhu cầu sử dụng.
Để đạt được kết quả tốt cần có các phương pháp lai tạo, chọn ra các giống mới có năng suất cao, chống chịu được với các điều kiện khắc nghiệt của môi trường [23]. Đặc tính chịu hạn của cây đậu xanh 1. Ảnh hưởng của hạn đến cây trồng Môi trường khô hạn gây ra hàng loạt những tác động tiêu cực đến cây trồng ở tất cả các cấp độ, từ hình thái, cấu trúc tới phân tử và ở tất cả các giai 9 đoạn phát triển. Để đối phó với điều kiện hạn hán, cây trồng sẽ khởi động cơ chế phòng vệ chống lại sự thiếu hụt nước, sau đó sẽ là một loạt các cơ chế ở các cấp độ khác nhau như giữ không để mất nước hoặc nhanh chóng bù lại sự thiếu hụt nước thông qua những biến đổi về hình thái, duy trì áp suất nội bào.
Sự đáp ứng chống chịu stress hạn của cây trồng được thực hiện thông qua một chuỗi các quá trình rất phức tạp với sự tham gia của hàng loạt các yếu tố [22]. Nước là điều kiện quan trọng cho sự nảy mầm. Nước tham gia vào quá trình trao đổi chất, các phản ứng sinh hoá trong tế bào, là nguồn nguyên liệu của nhiều phản ứng. Nước đảm bảo cho cây tồn tại và phát triển.
Hạt khô có hàm lượng nước từ 10 - 14% thì không nảy mầm.