Đặt vấn đề Na, hay còn gọi là mãng cầu ta, mãng cầu dai/giai, sa lê, phan lệ chi. Họ Na (Annonaceae) còn được gọi là họ Mãng cầu có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới, là một họ thực vật có hoa bao gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi hay dây leo.500 loài trong 120 - 130 chi, chi điển hình của họ này là Annona (Na hay Mãng cầu ta; Mãng cầu xiêm hay Mãng cầu gai). Ở nước ta, số loài thuộc chi Na (Annona) có 4 loài trong đó 3 loài là cây trồng. Cây Na (Annona squamosa L.) thuộc chi Na (Annona), là loại cây trồng ở Việt Nam và khá phổ biến được ưa chuộng tại các tỉnh phía Bắc.
Gần đây, loại quả này đã trở thành một mặt hàng có tiềm năng, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân Cây na cao cỡ 2–5 mét, lá mọc xen ở hai hàng; hoa xanh, quả tròn có nhiều múi (thực ra mỗi múi là một quả), hạt trắng có màu nâu sậm (Nguyễn Tiến Bân, 2000). Cây na được trồng ở một số điều kiện đất đai khác nhau như vườn đất bằng phẳng, vườn đất dốc, thậm chí trên núi. Dầu lá thu được 59 hợp chất hóa học. Lá mang lại nhiều dầu tuyệt vời Terpenes và Sequeterpenes chủ yếu là β- caryphyllene (31,1%), δ- cardionene, α-murolene (5,5%), α cardinal (4,3%) (Kaur R & cs.
Rễ được sử dụng Chúng đã được ứng dụng làm thuốc tẩy, trong điều trị bệnh kiết lỵ, bệnh tủy sống và bệnh tiểu đường. Vỏ cây là chất làm se và độc hại mạnh mẽ (Gowdhami M & cs. Nước sắc vỏ cây dùng làm thuốc bổ chống tiêu chảy, chống ung thư. Chất xơ chiết xuất từ vỏ cây đã được sử dụng để quấn dây.
Cây đóng vai trò là vật chủ cho côn trùng bài tiết. Cây được trồng trong vườn làm cây cảnh, được khuyến khích làm nguồn củi tốt (Vyas K & cs. Gần đây một số bệnh nghiêm trọng được tìm thấy ở Việt Nam, bệnh do nấm gây ra như bệnh đốm nâu (Alternaria passiflorae), đốm xám (Septoria passiflorae), thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), ghẻ quả (Cladosporium 1 oxysporum) và thối rễ (Phytophthora sp.), bệnh do virus gây ra như bệnh cứng trái (East Asia Passiflora virus), bệnh khảm lá (Passion fruit yellow mosaic virus), bệnh do vi khuẩn gây ra như bệnh đốm dầu (Pseudomonas passiflorae), bệnh héo rũ (Pseudomonas syringae), ngoài ra còn có bệnh do tuyến trùng gây ra. Trong đóm bệnh thối rễ Phytophthora sp.
được xem là một trong những bệnh nguy hiểm nhất. Ở Việt Nam cho tới nay có rất ít những nghiên cứu về bệnh thối rễ hại cây na. Gần đây, một loạt mẫu bệnh, mẫu đất đã được gửi đến Bệnh viện Cây trồng từ các tỉnh trồng nhiều cây na như Hải Dương, Sơn La, Hà Nam, Đông Triều, Tây Ninh. Do vậy việc đánh giá đặc tính sinh học, hình thái, cũng như xác định định danh loài nấm gây thối rễ trên cây na là yêu cầu cấp thiết trước khi áp dụng các biện pháp sinh học phòng trừ là điều rất cần thiết.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nêu trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Đức Huy, Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh vàng là thối rễ trên cây na (Phytophthora sp. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, phát sinh phát triển của Phytophthora sp.
gây bệnh vàng thối rễ trên cây na. - Sử dụng chế phẩm sinh học như nấm đối kháng Chaetomium spp. (chaeto), Trichoderma và vi khuẩn đối kháng Bacillus velezensis (B.4 (Burkholderia anthina) và YB5 trong phòng trừ Phytophthora sp. hây hại trên cây na.
- Thử nghiệm hiệu lực ức chế của một số loại thuốc hóa học với nấm Phytophthora sp. Yêu cầu - Xác định đặc điểm hình thái, sinh học của Phytophthora sp. gây bệnh vàng thối rễ cây na trên môi trường nhân tạo. - Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Chaetomium spp và vi khuẩn Bacillus velezensis, Đt -k 4.4 (Burkholderia anthina) và YB5 đối với Phytophthora sp.
gây bệnh vàng thối rễ hại trên cây na. - Thử nghiệm lây bệnh trong chậu vại. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm xác định được tác nhân gây bệnh vàng lá thối rễ hại trên cây na và đặc điểm hình thái, sinh học làm cơ sở cho việc phòng chống Phytophthora sp.
gây hại đạt kết quả cao. Ý nghĩa thực tiễn Xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp trên cây na làm giảm tối đa tỷ lệ nhiễm Phytophthora sp. gây bệnh vàng lá thối rễ, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân các khu vực trồng cây na. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ BỆNH HẠI CÂY NA 2.
Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc. Giới thiệu sơ lƣợc về cây na. Cây na (Annona squamosa L.), tên tiếng Anh là Sugar apple hoặc Custard apple có nguồn gốc từ vùng Ca-ri-bê và Nam Mỹ, được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Chi na Annona (Annonaceae) có khoảng 119 loài, trong đó có 5 loài đã được thuần hóa từ lâu và được trồng rộng rãi trong đó phổ biến nhất là 3 loài, gồm cây cherimoya (Annona cherimola), cây mãng cầu xiêm (A.
Muricata) và cây na (A. Hiện nay, cây na được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới, được trồng nhiều ở quần đảo West Indies, Cộng hòa Dominica, Florida (Hoa Kỳ), Trung Đông, Malaysia, Thái Lan (Vyas K & cs. Mãng cầu được trồng rộng rãi nhất tất cả các loài Annona, đang được trồng rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ấm hơn như Úc, Indonesia , Thái Lan, Đài Loan, Brazil, nam Florida , Ấn Độ, Tây Ấn. Nó đã du nhập vào miền nam châu Á trước năm 1590.
Ở một số các khu vực trên thế giới, quả mãng cầu cũng được biết đến như táo đường, một loại cây khác trong cùng một chi Annona Squamosa (còn được gọi là táo đường hoặc Sweetsop) là một loài Annona có nguồn gốc từ nhiệt đới Châu Mỹ, Ấn Độ và Pakistan. Phạm vi gốc chính xác của nó là không rõ do trồng trọt rộng rãi, nhưng được cho là ở Caribe; loài được mô tả từ Jamaica. Mãng cầu (Annona squmosa L.) là một trong những trong số những loại trái cây ngon nhất được giới thiệu ở Ấn Độ từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ. Nó cũng được tìm thấy ở dạng hoang dã ở nhiều nơi của Ấn Độ.
Nó được trồng ở Andhra Pradesh, Maharashtra, Karnataka, Bihar, Orissa, Assam và Tamil Nadu. Ngoài Ấn Độ, nó còn phổ biến ở Trung Quốc, Philippines, Ai Cập và Trung Phi. Tất cả các loài chim ở vùng nhiệt đới nguồn gốc và phát triển tốt ở khí hậu nóng và khô với mức độ khác nhau. Mãng cầu 4 yêu cầu khí hậu khô nóng trong thời kỳ ra hoa và độ ẩm cao, ra hoa khi khí hậu khô nóng của tháng Năm nhưng quá trình kết trái diễn ra khi bắt đầu gió mùa.
Độ ẩm thấp có hại cho quá trình thụ phấn và thụ tinh (K. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc. Theo Đặng Vũ Thị Thanh & cs. (2004) Việt Nam là một đất nước có hai vùng khí hậu khác biệt khu vực: khu vực cận nhiệt đới phía bắc Hai Vân Núi, có bốn mùa rõ rệt, và khu vực nhiệt đới ở phía nam, chỉ có hai các mùa, ẩm ướt và khô ráo.
Sự hiện diện của núi xa hơn ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam làm tăng sự đa dạng của các vùng khí hậu, cho phép cho một loạt các loài thực vật khác nhau tăng. Khí hậu cận nhiệt đới ở phía bắc, giáp với các dãy núi, cho phép sự phát triển của thực vật nhiệt đới và ôn đới ở các khu vực gần nhau khác. Các khu vực khác nhau ở Việt Nam cũng cung cấp một khí hậu lý tưởng cho các loài Phytophthora sinh sôi nảy nở, và chi Phytophthora chịu trách nhiệm về thiệt hại kinh tế lớn trong một loạt các các loại cây trồng khác nhau trên khắp đất nước, bao gồm trái cây, rau, rừng trồng cây và các loại khác cây nông nghiệp. Các tác nhân gây bệnh Phytophthora đã được báo cáo là gây ra cháy lá, thối thân, thối tim, thối quả và thối rễ ở một loạt các loài thực vật.
Tuy nhiên, thông tin về sự xuất hiện và phân phối của các loài Phytophthora khác nhau có mặt ở Việt Nam, sự lây truyền và tiến triển của bệnh, và thích hợp thiếu các phương pháp kiểm soát. Một cách tiếp cận chiến lược để nghiên cứu và kiểm soát phytophthora trong tương lai bệnh là cần thiết. Một số loài nấm thuộc chủng Phytophthora gây thiệt hại ngày càng cao trên một số cây trồng ở Việt Nam, bao gồm cây ăn quả, rau, cây gia vị, và các cây công nghiệp. Mười ba loài Phytophthora đã được định danh ở nước ta, trong đó có hại loài gây thiệt hại nặng là Phytophthora infestans trên cây cà chua và Phytophthora capsici trên hồ tiêu (Đặng Vũ Thị Thanh & cs.
5 Bệnh thối rễ và loét thân gây bởi Phytophthora là dịch hại quan trọng của cây bơ (Persea americana Miller) và là yếu tố giới hạn sản xuất đối với nhiều vùng trồng bơ trên thế giới. Nghiên cứu này nhằm xác định loài Phytophthora gây bệnh thối rễ và loét thân trên cây bơ ở một số khu vực trồng ở miền Đông Nam bộ. Một đợt khảo sát tình hình bệnh trên vườn bơ ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (BRVT) và Đồng Nai đã được tiến hành trong năm 2015. Từ 980 cây khảo sát, đã ghi nhận được 48 cây có các triệu chứng của thối rễ và loét thân với tỷ lệ nhiễm trung bình 4,90%.
Cây bị nhiễm bệnh bao gồm các giống địa phương và nhập nội. 48 mẫu bệnh, trong đó có 15 mẫu rễ và 33 mẫu vỏ thân cây, được thu thập và phân lập trên môi trường chọn lọc BNPRAH. Từ các mẫu phân lập, một loài Phytophthora được xác định là Phytophthora cinnamomi Rands dựa trên hình thái học, trắc nghiệm khả năng lây nhiễm theo quy tắc Koch và phân tích DNA. Sản xuất bơ đã được mở rộng nhanh chóng trong 5 năm qua ở nước ta và hiện nay đây là cây trồng cho thu nhập cao của nhà vườn địa phương.
Bệnh thối rễ và loét thân có thể trở thành yếu tố đe dọa đến sự phát triển bền vững của sản xuất bơ ở Việt Nam. (Mai Văn Trị & cs. Ở Việt Nam, chi nấm Phytophthora đã gây ra thiệt hại kinh tế trên nhiều loài cây trồng, làm giảm năng suất trầm trọng và làm giảm nguồn thu nhập của người nông dân.