Đặt vấn đề Cây có múi thuộc phân họ Aurantioidae, họ Rutaceae là nhóm cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nước ta, có lịch sử lâu đời và được trồng trên khắp các vùng sinh thái của cả nước. Cam quýt là loại quả có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao như vitamin C, đường, acid hữu cơ và các khoáng chất cần thiết khác có tác dụng rất tốt cho sức khỏe của con người. Thêm vào đó, theo như Baghurst (2003) thì cây có múi có lợi ích giảm nguy cơ xuất hiện ung thư. Nhờ độ ngọt, hương vị ngon, mùi hương thơm và hàm lượng dinh dưỡng cao, cây có múi và các sản phẩm từ nó trở nên nổi tiếng và có giá trị về dinh dưỡng cũng như kinh tế đối với các nước phát triển và đang phát triển.
Trong những năm gần đây, lượng sản xuất cây có múi đã phát triển dáng kể. Theo như Hoàng Ngọc Thuận (2000), diện tích trồng cây có múi đã tăng từ 60,000 ha (1994) lên hơn 124,000 ha (2011). Huyện Chương Mỹ ngày nay là một trong 30 quận, huyện, thị xã của Thủ đô Hà Nội, là huyện ngoại thành nằm ở phía Tây Nam, cách trung tâm thủ đô 20 km; phía Bắc giáp huyện Quốc Oai; phía Đông giáp quận Hà Đông, huyện Thanh Oai; phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức; phía Tây giáp với huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình). Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 23.240,92 ha, trong đó: nhóm đất nông nghiệp là 14.032,65 ha; nhóm đất phi nông nghiệp là 8.081,23 ha; nhóm đất chưa sử dụng là 8.
Chương Mỹ được thiên nhiên hào phóng ban tặng cho một địa hình khá đa dạng, vừa có đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ, vừa mang đặc trưng của vùng bán sơn địa có núi, sông, hồ, đồng, bãi, kết hợp với hệ thống sông lớn. Phát huy lợi thế đất đồi gò, những năm gần đây, huyện Chương Mỹ đã xây dựng và phát triển thành công mô hình sản xuất bưởi Diễn chất lượng cao. Đặc biệt, từ năm 2016, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - Công nghệ) đã cấp giấy chứng nhận cho Hội Nông dân huyện là chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể “Bưởi 1 Chương Mỹ”. Hiện nông dân Chương Mỹ đang phát huy tối đa hiệu quả kinh tế từ nguồn cây trồng giá trị này.
Trong những năm gần đây, bệnh với những triệu chứng như vàng lá, thối rễ và rụng quả trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển của cây có múi cũng như gây ra nhiều khó khăn cho người nông dân. Bệnh này được ghi nhận ở nhiều nơi trên thế giới với các tên gọi như thối gốc, thối nâu, chảy gôm, vàng lá thối rễ do nấm Pythium cucurbitacearum Tuy nhiên, cũng có nhiều tác nhân gây bệnh cũng có thể gây hiện tượng thối gốc rễ và chảy gôm trên cây có múi. Bệnh vàng lá thối rễ gây suy giảm năng suất, chất lượng quả, thậm chí gây chết cây. Nhiều vườn cam quýt đã phải chặt đi trồng lại nhưng sau đó cây trồng mới tiếp tục bị chết.
Cho tới nay, chưa có nghiên cứu đầy đủ về bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi tại huyện Chương Mỹ. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nêu trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Đức Huy, Bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh vàng lá thối rễ (Pythium cucurbitacearum ) hại trên cây có múi” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích Nghiên cứu đặc điểm hình thái, phát sinh, phát triển của Pythium cucurbitacearum gây bệnh vàng lá thối rễ cây có múi. Sử dụng các tác nhân sinh học như nấm đối kháng Trichoderma asperellum (T. asperellum), nấm đối kháng Chaetomium spp. và vi khuẩn đối kháng Bacillus veleznsis (B.
velezensis) trong phòng trừ Pythium cucurbitacearum gây hại trên cây có múi. Yêu cầu Xác định đặc điểm hình thái, sinh học của Pythium cucurbitacearum gây bệnh vàng lá thối rễ cây có múi trên môi trường nhân tạo. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường đến sự sinh trưởng, phát 2 triển của Pythium cucurbitacearum gây bệnh vàng lá thối rễ cây có múi. Đánh giá hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma, nấm đối kháng Chaetomium spp.
và vi khuẩn đối kháng Bacillus veleznsis trong phòng trừ Pythium cucurbitacearum gây hại trên cây có múi. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm xác định được tác nhân gây bệnh vàng lá thối rễ hại trên cây có múi và đặc điểm hình thái, sinh học làm cơ sở cho việc phòng chống Pythium cucurbitacearum gây hại đạt kết quả cao. Ý nghĩa thực tiễn Xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp trên cây có múi làm giảm tối đa tỷ lệ nhiễm Pythium cucurbitacearum gây bệnh vàng lá thối rễ, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân các khu vực trồng cây có múi.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ BỆNH HẠI CÂY CÓ MÚI 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Giới thiệu sơ lược về cây có múi Sinh học, lịch và sự phát triển của các loại trái cây có múi đã thu hút sự quan tâm trên toàn thế giới. Điều này đã được nâng cao, ở một mức độ lớn, bởi vẻ ngoài hấp dẫn độc đáo của quả và các đặc tính y học của nó.
Trái cây có múi có nguồn gốc ở Đông Nam Á và lan rộng trong thời Trung Cổ, sau này được thành lập ở tất cả các lục địa. Cam quýt cho đến nay vẫn là loại cây ăn quả thường xanh quan trọng nhất trong thương mại thế giới. Cấu trúc đặc biệt của trái cây và thời hạn sử dụng dài đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu trái cây tươi với quy mô lớn. Mặt khác, các sản phẩm nước trái cây chế biến cũng ngày càng trở nên quan trọng trên toàn thế giới.
Nguồn gốc chính xác của cây có múi, các loại tổ tiên của nó và hệ thống học vẫn còn phần lớn không rõ. Sự phong phú to lớn của các loại và giống cây có múi ngày nay phản ánh các lựa chọn nhân giống tự nhiên rộng lớn trong cây có múi, cũng như sự can thiệp có chủ đích của con người. Di truyền học phân tử, vốn là một công cụ hữu ích nhất trong việc làm sáng tỏ những bí mật của quá khứ, cũng mở ra khung cảnh mới cho công việc lai tạo trong tương lai. Nông nghiệp có múi hiện đại đã áp dụng cách trồng cây bán phần và không hạt cho tất cả các loại cây có múi chính các loại.
Các giống cây trồng ngày nay đại diện cho phần lớn các tổ hợp gen tinh vi được bảo tồn bằng cách nhân giống sinh dưỡng trên các gốc ghép được nhân giống bằng hạt. Trồng cây có múi cổ điển đạt chất lượng quả cao nhất ở các vùng cận nhiệt đới. Nhiệt độ thấp và nguy cơ băng giá hạn chế sự mở rộng của ngành trồng trọt sang các vùng mát hơn. Cam quýt luôn được biết đến là loại cây phụ thuộc nhiều vào việc tưới tiêu trong hầu hết các môi trường.
Mối quan hệ giữa nước và dinh dưỡng khoáng đã được nghiên cứu rộng rãi. Tầm quan trọng của các bệnh do virus đối với sự tồn tại và nhân giống của cây có múi ngày càng trở nên rõ 4 ràng trong thế kỷ nay. Sự gia tăng đáng chú ý trong các tiêu chuẩn tiếp thị đã dẫn đến việc áp dụng các chiến lược kiểm soát dịch bệnh và sâu bệnh nghiêm ngặt, liên quan đến việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm. Việc phát triển các biện pháp phòng trừ dịch hại sinh học là một trong những thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực này.
Sinh lý sinh dưỡng và sinh sản của cây có múi đã được nghiên cứu rất chi tiết, với sự phát triển và trưởng thành của quả nhận được sự quan tâm đáng kể. Việc bảo quản kéo dài và thương mại xuất khẩu ra nước ngoài đã kích thích việc nghiên cứu sinh lý và bệnh lý sau thu hoạch. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến đã thúc đẩy các cuộc điều tra chi tiết về thành phần hóa học của trái cây. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi Trong suốt nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng của cây có múi không ngừng tăng nhanh.
Vành đai trồng trọt cây có múi trải dài từ 40º vĩ Bắc xuống 40º vĩ Nam, có nghĩa là cam quýt chỉ được trồng trọt ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Hiện nay, vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam, Cuba, Thái Lan, Malaysia và miền Nam Trung Quốc giáp Việt Nam đang gặp những khó khăn lớn về phát triển cây có múi do một số bệnh hại điển hình của vùng nhiệt đới như greening, tristera, chảy gôm, vàng lá thối rễ gây nên. Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện tích cây có múi của một số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp hoặc không tăng lên được. Trái lại, khí hậu vùng bán nhiệt đợi làm hạn chế các loại bệnh hại cây có múi, chính vì thế cây có múi ở vùng nhiệt đới có xu hướng ngày càng phát triển mạnh về diện tích năng suất, chất lượng quả cũng như sự đầu tư các biện pháp kỹ thuật về giống, canh tác (Ngô Xuân Bình và Lê Tiến Hùng, 2010), (Feederic and Davies et al.
Tổng sản lượng quả bưởi trên thế giới đạt khoảng hơn 6.5 triệu tấn bưởi, cả loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis) chiếm 5.6% tổng sản lượng cây cam quýt. Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước 5 châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả. Bưởi chủ yếu được sản xuát ở các nước châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh,… được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu. Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây có múi * Giá trị dinh dưỡng: Cây ăn quả có múi là nhóm cây có chất lượng và giá trị dinh dưỡng cao, có giá trị thương phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất tại các vùng trồng trên toàn thế giới.
Thành phần hóa học của quả cây có mùi biến đổi theo loại giống khí hậu, cây gốc ghép và kỹ U19 Các loài cây có múi cũng giống như các loài cây ăn quả khác chứa hàm lượng nước khá cao nhưng cũng chứa khoảng 400 thành phần khác bao gồm một lượng tương đối hydrat cacbon, axit hữu cơ, axit amin, axit ascorbic, khoáng.