Pham van khang toan van luan an

Luận án tiến sĩ về thực trạng bệnh than tại miền núi phía Bắc Việt Nam giai đoạn 2010-2022. Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và đề xuất biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Trường đại học

Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

213
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢN ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương bệnh than

1.2. Thông tin chung về bệnh than

1.3. Tác nhân gây bệnh

1.4. Đặc điểm lâm sàng của bệnh than

1.5. Nguồn truyền nhiễm và phương thức lây truyền của bệnh than

1.6. Các biện pháp dự phòng

1.7. Thực trạng bệnh than trên người

1.7.1. Trên thế giới

1.7.2. Tại Việt Nam

1.8. Thực trạng bệnh than trên động vật và tác nhân gây bệnh ở môi trường

1.8.1. Thực trạng bệnh than trên động vật

1.8.2. Thực trạng tác nhân gây bệnh than ở môi trường

1.9. Các yếu tố nguy cơ của bệnh than trên người

1.9.1. Các yếu tố cá nhân

1.9.2. Các yếu tố môi trường

1.9.3. Các yếu tố thuộc về hệ thống y tế, thú y

1.9.4. Các yếu tố kinh tế - văn hoá - xã hội

1.10. Sinh học phân tử của vi khuẩn B. anthracis

1.10.1. Phân bố các chủng B. anthracis trên thế giới

1.10.2. Phân bố các chủng B. anthracis tại Việt Nam

1.11. Các phương pháp chẩn đoán vi khuẩn B. anthracis trong phòng thí nghiệm

1.11.1. Nuôi cấy, định danh vi khuẩn

1.11.2. Phản ứng hạt trai

1.11.3. Phương pháp kháng thể huỳnh quang

1.11.4. Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp

1.11.5. Các phương pháp sinh học phân tử

1.12. Một số đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội, tỉnh Hà Giang và tỉnh Sơn La

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu cho mục tiêu 1

2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.4. Thu thập thông tin

2.5. Quản lý và phân tích số liệu. Sai số và biện pháp hạn chế sai số

2.6. Phương pháp nghiên cứu cho mục tiêu 2

2.7. Thiết kế nghiên cứu

2.8. Đối tượng nghiên cứu

2.9. Thu tuyển đối tượng. Quy trình nghiên cứu

2.10. Thu thập thông tin cho nghiên cứu bệnh chứng

2.11. Quản lý và phân tích số liệu cho nghiên cứu bệnh chứng

2.12. Sai số và biện pháp hạn chế sai số

2.13. Phương pháp nghiên cứu cho mục tiêu 3

2.14. Thiết kế nghiên cứu

2.15. Đối tượng nghiên cứu

2.16. Phân tích phòng thí nghiệm

2.17. Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

2.18. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng bệnh than trên người, động vật và tác nhân gây bệnh ở môi trường tại tỉnh Hà Giang, Sơn La giai đoạn 2010-2022

3.2. Bệnh than trên người

3.3. Bệnh than trên động vật

3.4. Tác nhân gây bệnh than trong môi trường (đất)

3.5. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh than tại tỉnh Hà Giang, Sơn La năm 2019-2022

3.6. Đặc điểm tuổi, giới tính của đối tượng nghiên cứu

3.7. Các yếu tố nguy cơ bên ngoài đến khả năng mắc bệnh than

3.8. Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ mắc bệnh than

3.9. Một số đặc điểm sinh học phân tử của vi khuẩn Bacillus anthracis phân lập được ở bệnh nhân tại tỉnh Hà Giang, Sơn La năm 2019-2022

3.10. Đặc điểm dịch tễ vụ dịch bệnh than tại Sơn La, 2022

3.11. Đặc điểm dịch tễ vụ dịch bệnh than tại Hà Giang 2019,2020

3.12. Các mô hình không gian và phát sinh loài, xác định nguồn lây nhiễm của B. anthracis trong vụ dịch bệnh than ở tỉnh Sơn La, Hà Giang năm 2019-2022

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng bệnh than trên người, động vật và tác nhân gây bệnh ở môi trường tại tỉnh Hà Giang, Sơn La giai đoạn 2010-2022

4.2. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh than tại tỉnh Hà Giang, Sơn La năm 2019-2022

4.3. Một số đặc điểm sinh học phân tử của vi khuẩn Bacillus anthracis phân lập được ở bệnh nhân tại tỉnh Hà Giang, Sơn La năm 2019-2022

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bệnh Than Hiểu Rõ Bệnh Than Là Gì

Bệnh than (Anthrax) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây truyền từ động vật sang người (Anthropozoonosis) do vi khuẩn Bacillus anthracis (B. anthracis) gây ra. Trên người, bệnh thường gây tổn thương ở da, ít gặp hơn tổn thương ở họng, đường hô hấp, hoặc tiêu hoá. Tỷ lệ tử vong của bệnh than khác nhau giữa các thể lâm sàng: 85-90% thể hô hấp, 50% thể tiêu hóa, 20% thể da, tỷ lệ tử vong của bệnh giảm xuống khi được điều trị kháng sinh kịp thời. Đối với động vật, bệnh gây chết đột ngột, trước khi chết có dấu hiệu sốt cao, chảy máu quanh mũi, miệng và hậu môn. B. anthracis là vi khuẩn gram dương, hình que, có khả năng tạo nha bào tồn tại lâu dài trong môi trường.

1.1. Định Nghĩa và Đường Lây Truyền Của Bệnh Than

Bệnh than là bệnh lây từ động vật sang người. Vi khuẩn Bacillus anthracis xâm nhập vào cơ thể người hoặc gia súc qua da bị tổn thương hoặc qua niêm mạc đường hô hấp hay đường tiêu hoá. Thế kỷ 14, thế giới đã ghi nhận vụ dịch than tại Đức với trường hợp bệnh mắc rải rác trên động vật (cừu, dê, thú nuôi) và người. Bệnh xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới với khoảng 20.000 trường hợp mỗi năm chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi và các nước không có chương trình tiêm chủng vắc xin cho gia súc. Tại Việt Nam bệnh than là bệnh thường gặp tại một số tỉnh miền núi phía Bắc.

1.2. Các Thể Lâm Sàng và Mức Độ Nguy Hiểm Bệnh Than

Bệnh than được chia ra thành bốn thể lâm sàng chính dựa trên đường xâm nhập của vi khuẩn và các triệu chứng lâm sàng, bao gồm bệnh than lây qua đường hô hấp, bệnh lây qua đường tiêu hóa, bệnh lây qua da và bệnh than lây qua đường tiêm truyền. Bệnh than có tỷ lệ tử vong cao với triệu chứng khởi phát bệnh xuất hiện trong 2-6 ngày, bệnh nhân tử vong trong vòng 1-3 ngày nếu không được điều trị kháng sinh kịp thời. Tỷ lệ tử vong của bệnh than là khác nhau giữa các thể lâm sàng, cao nhất là khi lây qua đường hô hấp, sau đó đến tiêu hóa, tiêm truyền và da. Bệnh than có thể dự phòng bằng vắc xin, điều trị bằng kháng sinh.

II. Thực Trạng Bệnh Than Ở Miền Bắc Nghiên Cứu 2010 2022

Tại Việt Nam, bệnh than thường gặp tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Sơn La và Hà Giang. Giai đoạn trước năm 2011 tại khu vực này ghi nhận trung bình từ 12-191 trường hợp mỗi năm với hầu hết là ca bệnh thể da. Bệnh than thường không xuất hiện dưới dạng các ca mắc tản phát mà thành các vụ dịch nhỏ hoặc trung bình với yếu tố nguy cơ mắc phổ biến là sống gần khu vực trang trại nuôi gia súc, những nơi chăn thả gia súc không có hàng rào che chắn. Một số ổ dịch bệnh than xảy ra khi có tiếp xúc được ghi nhận như: giết mổ, ăn thịt, chế biến… gia súc ốm, chết; cách xử lý động vật ốm chết không đúng cách.

2.1. Dịch Tễ Học Bệnh Than Tại Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc

Bệnh thanmiền núi phía Bắc thường xuất hiện thành các vụ dịch nhỏ hoặc trung bình. Yếu tố nguy cơ mắc bệnh phổ biến là sống gần trang trại nuôi gia súc và chăn thả gia súc không có hàng rào che chắn. Các hoạt động tiếp xúc như giết mổ, ăn thịt, chế biến gia súc ốm chết cũng là nguyên nhân gây dịch bệnh. Công tác xử lý động vật ốm chết không đúng cách cũng góp phần làm lây lan dịch bệnh.

2.2. So Sánh Số Liệu Bệnh Than Trước và Sau Năm 2011

Trước năm 2011, khu vực miền núi phía Bắc ghi nhận trung bình 12-191 ca bệnh than mỗi năm. Hầu hết các ca bệnh là thể da. (Cần có số liệu sau năm 2011 để so sánh chính xác, nhưng tài liệu gốc không cung cấp). Mục tiêu nghiên cứu này nhằm xác định thực trạng bệnh than trong giai đoạn 2010-2022 tại Hà Giang và Sơn La.

III. Yếu Tố Nguy Cơ Bệnh Than Cách Nhận Diện Phòng Tránh

Nghiên cứu về bệnh thanmiền núi phía Bắc cần làm rõ các yếu tố nguy cơ để có biện pháp phòng tránh hiệu quả. Những yếu tố này bao gồm điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa chăn nuôi, kiến thức người dân về bệnh, và các yếu tố liên quan đến môi trường và hệ thống y tế, thú y. Việc xác định các yếu tố nguy cơ giúp các nhà chuyên môn và quản lý xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh than hiệu quả hơn.

3.1. Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Chăn Nuôi Đến Nguy Cơ Mắc Bệnh

Văn hóa chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan bệnh than. Phương pháp chăn thả tự do, không có hàng rào che chắn tạo điều kiện cho gia súc tiếp xúc với mầm bệnh trong đất. Thói quen giết mổ, ăn thịt gia súc ốm chết cũng làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho người. Cần có các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức để thay đổi những tập quán này.

3.2. Vai Trò Của Điều Kiện Kinh Tế Xã Hội Trong Lây Lan Dịch Bệnh

Điều kiện kinh tế xã hội cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Ở các vùng miền núi phía Bắc, điều kiện kinh tế còn khó khăn, người dân ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, thú y. Kiến thức về bệnh than còn hạn chế, dẫn đến các hành vi phòng bệnh chưa đúng cách. Cần có các chính sách hỗ trợ kinh tế, nâng cao trình độ dân trí để giảm nguy cơ mắc bệnh.

3.3. Các yếu tố môi trường và hệ thống y tế thú y

Môi trường sống và hoạt động có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng bùng phát bệnh. Hệ thống thú y chưa đủ mạnh để có thể kiểm soát và giám sát dịch bệnh.

IV. Chẩn Đoán Điều Trị Bệnh Than Phương Pháp Mới Nhất

Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là yếu tố then chốt để giảm tỷ lệ tử vong do bệnh than. Các phương pháp chẩn đoán hiện nay bao gồm nuôi cấy, định danh vi khuẩn, phản ứng hạt trai, phương pháp kháng thể huỳnh quang, phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp, và các phương pháp sinh học phân tử. Điều trị bệnh than chủ yếu sử dụng kháng sinh. Ngoài ra, cần có các biện pháp điều trị hỗ trợ khác để giảm các biến chứng.

4.1. Các Phương Pháp Chẩn Đoán Bệnh Than Hiện Đại

Chẩn đoán bệnh than bao gồm nuôi cấy, định danh vi khuẩn, và các phương pháp sinh học phân tử như PCR. Phản ứng hạt trai là một phương pháp chẩn đoán nhanh dựa vào độ nhạy cảm của vi khuẩn với penicillin ở nồng độ thấp. Các phương pháp sinh học phân tử giúp xác định chính xác chủng vi khuẩn và nguồn gốc lây nhiễm.

4.2. Phác Đồ Điều Trị Bệnh Than Hiệu Quả Nhất Hiện Nay

Điều trị bệnh than chủ yếu sử dụng kháng sinh, như Ciprofloxacin và Doxycycline. Việc điều trị cần được thực hiện càng sớm càng tốt để giảm nguy cơ biến chứng và tử vong. Ngoài ra, cần có các biện pháp điều trị hỗ trợ khác, như truyền dịch, thở oxy, và chăm sóc đặc biệt. Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều trường hợp bị kháng thuốc.

V. Đặc Điểm Sinh Học Phân Tử Bệnh Than Ứng Dụng Thực Tế

Về đặc điểm sinh học phân tử, trên thế giới có khoảng 1. anthracis phân bố thành 12 nhóm phụ và dưới nhóm phụ là 221 kiểu gen khác nhau. Trong 12 nhóm phụ được phân thành 3 nhóm lớn (A, B, C). Nhóm A được phân tán rộng rãi trên toàn cầu, nhóm B và C có quy mô hẹp hơn. Tại Việt Nam các nghiên cứu về đặc điểm sinh học phân tử của vi khuẩn than còn rất hạn chế. Việc phân tích được đặc điểm kiểu gen sẽ giúp cho việc điều tra nguồn gốc của vụ dịch qua đó góp phần trong việc xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh than.

5.1. Phân bố các chủng B. anthracis trên thế giới và tại Việt Nam

trên thế giới có khoảng 1. anthracis phân bố thành 12 nhóm phụ và dưới nhóm phụ là 221 kiểu gen khác nhau. Trong 12 nhóm phụ được phân thành 3 nhóm lớn (A, B, C). Tại Việt Nam các nghiên cứu về đặc điểm sinh học phân tử của vi khuẩn than còn rất hạn chế.

5.2. Các phương pháp chẩn đoán vi khuẩn B. anthracis trong phòng thí nghiệm

Nuôi cấy, định danh vi khuẩn. Phản ứng hạt trai, Phương pháp kháng thể huỳnh quang, Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp, Các phương pháp sinh học phân tử

VI. Phòng Chống Bệnh Than Hướng Dẫn Chi Tiết Từ Chuyên Gia

Phòng chống bệnh than đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên, bao gồm ngành y tế, thú y, chính quyền địa phương, và người dân. Các biện pháp phòng chống bao gồm tiêm phòng vắc xin cho gia súc, kiểm soát giết mổ, vệ sinh môi trường, và nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Cần có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân thực hiện các biện pháp phòng bệnh.

6.1. Tiêm Phòng Vắc Xin Cho Gia Súc Giải Pháp Hiệu Quả

Tiêm phòng vắc xin cho gia súc là một trong những biện pháp phòng chống bệnh than hiệu quả nhất. Vắc xin giúp bảo vệ gia súc khỏi bệnh, giảm nguy cơ lây nhiễm cho người. Chương trình tiêm phòng cần được thực hiện định kỳ, đảm bảo độ bao phủ cao.

6.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Bệnh Than

Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bệnh than là rất quan trọng. Người dân cần được trang bị kiến thức về đường lây truyền, triệu chứng, cách phòng tránh bệnh. Các biện pháp tuyên truyền cần được thực hiện đa dạng, phù hợp với trình độ dân trí của từng vùng.

13/05/2025
Pham van khang toan van luan an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương bệnh than 1. Thông tin chung về bệnh than Bệnh than là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lây truyền từ động vật sang người do vi khuẩn B. anthracis gây ra.

Bệnh than được xác định gây bệnh chủ yếu trên động vật ăn cỏ hoang dã và gia súc, xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới với tỷ lệ nhiễm cao nhất ở các nước không có chương trình tiêm chủng vắc xin cho gia súc [7, 103]. Bệnh than được chia ra thành bốn thể lâm sàng chính dựa trên đường xâm nhập của vi khuẩn và các triệu chứng lâm sàng, bao gồm bệnh than lây qua đường hô hấp khi hít phải nha bào của vi khuẩn, bệnh lây qua đường tiêu hóa khi ăn phải thực phẩm hay uống nước nhiễm nha bào than, bệnh lây qua da thông qua vết thương hở trên da hoặc niêm mạc và bệnh than lây qua đường tiêm truyền xảy ra chủ yếu ở người tiêm chích ma túy [134]. Bệnh than là một bệnh có tỷ lệ tử vong cao với triệu chứng khởi phát bệnh xuất hiện trong 2-6 ngày nhưng cũng có thể kéo dài vài tuần trước khi có triệu chứng đầu tiên, bệnh nhân tử vong trong vòng 1-3 ngày nếu không được điều trị kháng sinh kịp thời. Tỷ lệ tử vong của bệnh than là khác nhau giữa các thể lâm sàng như sau: 85-90% khi lây qua đường hô hấp, 50% lây truyền qua đường tiêu hóa, 34-47% đối với bệnh khi lây qua đường tiêm truyền, 20% đối với bệnh khi lây qua da (tỷ lệ tử vong của bệnh lây qua da có thể giảm xuống dưới 1% khi được điều trị kịp thời với kháng sinh [26, 66, 68, 95, 122].

Bệnh than có thể dự phòng bằng vắc xin, điều trị bằng kháng sinh và các biện pháp điều trị hỗ trợ khác như giải độc tố. Tuy nhiên, vắc xin cho người hiện chủ yếu được sử dụng cho các đối tượng nguy cơ cao như quân nhân trong các cuộc tấn công sinh học [84]. Tác nhân gây bệnh Vi khuẩn B. anthracis có kích thước từ 1-1,5 x 3 μm có hai đầu vuông, đứng riêng rẽ hoặc xếp thành chuỗi.

Sức đề kháng của trực khuẩn than kém, dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng thông thường, nhiệt độ 50-58°C sau 15- 40 phút, 100°C sau 10 phút, ánh sáng mặt trời sau 10-16 giờ. Tuy nhiên đây là vi khuẩn gram dương, hình que, có khả năng tạo nha bào [131]. Khi điều kiện môi trường không cho phép, B. anthracis có khả năng sinh nha bào và tồn tại lâu dài trong môi trường, do đó nguy cơ nhiễm bệnh cho người và động vật sẽ kéo dài nhiều năm sau khi có trường hợp bệnh than được xác định [32, 49].

Nha bào có khả năng chịu được các tác động của môi trường xung quanh như nhiệt độ, pH, khô hạn, hoá chất diệt khuẩn, phóng xạ và các điều kiện bất lợi tương tự. Khi ở trong cơ thể vật chủ, B. anthracis tồn tại ở dạng sinh dưỡng, nhân lên, tạo ra độc tố và gây chết vật chủ. Quá trình nha bào hóa xảy ra ngoài cơ thể vật chủ khi vi khuẩn tiếp xúc với oxy trong không khí.

Chu trình chuyển đổi từ dạng sinh dưỡng-nha bào và ngược lại là quá trình quan trọng giúp cho vi khuẩn tồn tại lâu dài và gây nhiễm cho vật chủ tiếp theo, thậm chí đến hàng trăm năm sau khi vật chủ trước đó chết đi, khiến cho bệnh than là bệnh không thể loại trừ ngay cả khi có vắc xin [73, 131]. Đặc điểm lâm sàng của bệnh than Mỗi thể lâm sàng đều có biểu hiện và triệu chứng khu trú hay toàn thân khác nhau. Tuy nhiên, cả bốn thể lâm sàng đều có thể tiến triển thành viêm màng não xuất huyết và nhiễm khuẩn huyết, đây là tình trạng bệnh lý nghiêm trọng với các biểu hiện như đau cổ, đau đầu, thay đổi trạng thái tinh thần, nôn và sốt cao. Tình trạng viêm màng não cấp tính kèm theo phù nề, dẫn tới tăng áp lực nội sọ và có máu trong dịch não tủy.

Tình trạng nhiễm khuẩn huyết xảy ra khi vi khuẩn than lan từ hạch bạch huyết vào máu, gây ra nhiễm độc máu đột ngột; sốc; bệnh nhân bị khó thở; tím tái; mất phương hướng; hôn mê và tử vong xảy ra chỉ trong vài giờ [131]. Đặc điểm lâm sàng của bệnh than lây truyền qua da 5 Do da bị tổn thương tiếp xúc trực tiếp với máu, các chất thải, các mô, lông, da, xương của động vật mắc bệnh than hoặc tiếp xúc với các sản phẩm làm từ những nguyên liệu của động vật bị nhiễm bệnh như mặt trống, bàn chải, áo da. Bệnh có thể lây truyền qua tiếp xúc với đất bị nhiễm nha bào than trong quá trình giết mổ hoặc sử dụng phân bón chế biến từ xương động vật bị mắc bệnh. Bệnh than lây truyền qua da chiếm đến trên 95% tổng số trường hợp mắc bệnh than trên người [5, 131, 132].

Vẩy đen trên da tại vết thương phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh là dấu hiệu điển hình của bệnh than, thường đi kèm với sưng nề lan tỏa khá xa từ vết thương. Giai đoạn ủ bệnh có thể kéo dài từ vài giờ cho tới 3 tuần, trung bình là 2-6 ngày [38, 126]. Mặc dù, việc sử dụng kháng sinh có thể giúp tiêu diệt vi khuẩn rất nhanh, nhưng các triệu chứng điển hình trên sẽ kéo dài trong vài ngày trước khi có sự biến đổi và mất vài tuần để có thể hồi phục hoàn toàn. Đặc điểm lâm sàng của bệnh than lây truyền qua đường tiêu hóa Bệnh than lây truyền qua đường tiêu hóa thường được chia thành hai dạng theo vị trí xâm nhập của nha bào.

Thứ nhất, nha bào xâm nhập tại vùng hầu họng, tổn thương sẽ xuất hiện ở khoang miệng hoặc lưỡi, amidan hoặc thành họng sau. Thứ hai, nha bào xâm nhập trong đường tiêu hóa, tổn thương có thể xảy ra ở bất kỳ khu vực nào nhưng chủ yếu là ở hồi tràng và manh tràng [131]. Đau họng, khó nuốt và nổi hạch cổ là những biểu hiện lâm sàng sớm của bệnh tại vùng hầu họng; tiếp sau đó là sưng nề lan tỏa ở cổ và thành ngực trước, trong nhiều trường hợp cần mở khí quản [131]. Các triệu chứng ban đầu của bệnh ở đường tiêu hóa thường không điển hình, bao gồm: buồn nôn, nôn, chán ăn, rối loạn tiêu hóa nhẹ và sốt.

Sau đó, sẽ tiến triển sang giai đoạn nặng hơn với triệu chứng tan máu, đi ngoài ra phân có máu, cổ trướng. Giai đoạn ủ bệnh của bệnh than lây qua đường tiêu hóa thường kéo dài trong 3-7 ngày [131]. Đặc điểm lâm sàng của bệnh than lây truyền qua đường hô hấp Nguyên nhân do hít phải nha bào vi khuẩn, thường gặp trong công nghiệp chế biến da, len, xương hoặc trực tiếp tiếp xúc với động vật mắc bệnh than. Các triệu chứng ban đầu trước khi chuyển sang giai đoạn cấp tính của bệnh than lây qua đường hô hấp cũng không điển hình như sốt hoặc ớn lạnh, đổ mồ hôi, mệt mỏi hoặc khó chịu, ho khan, khó thở, thay đổi trạng thái tinh thần, buồn nôn và nôn; kết quả chụp X-quang vùng ngực có thể cho thấy sự thâm nhiễm, tràn dịch màng phổi và giãn trung thất, có thể nổi hạch vùng trung thất.

Thời gian ủ bệnh trung bình là 4-6 ngày nhưng cũng có thể lên tới trên 10 ngày [131]. Với các triệu chứng không điển hình như vậy, bệnh than lây qua đường hô hấp có thể bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh đường hô hấp khác; việc chẩn đoán bệnh cần dựa trên các đặc điểm lâm sàng và các yếu tố dịch tễ như tiền sử tiếp xúc của người bệnh với gia súc ốm/chết hoặc ăn thịt gia súc ốm/chết, sống khu vực lưu hành của bệnh than. Đặc điểm lâm sàng của bệnh than lây qua đường tiêm truyền Triệu chứng của bệnh than lây qua đường tiêm truyền thường khởi phát trong vòng 1-2 ngày (40% trong ngày đầu tiên) sau khi bệnh nhân tiêm ma túy [97]. Trong các trường hợp bị chẩn đoán sai sang bệnh khác và không được điều trị kháng sinh thích hợp, bệnh nhân thường có tình trạng bệnh nặng hơn với hội chứng chèn ép, nhiễm khuẩn huyết, hoại tử, suy đa phủ tạng và tử vong sau 1-3 ngày từ khi nhập viện [97].

Các biểu hiện và triệu chứng lâm sàng của bệnh than lây qua đường tiêm truyền khá đa dạng, nhưng phổ biến nhất là sưng lan tỏa kéo dài, đỏ và đau tại chỗ tiêm. Đây cũng chính là những triệu chứng khiến bệnh nhân tìm đến các cơ sở khám chữa bệnh và dễ bị chẩn đoán nhầm với các nhiễm trùng mô mềm khác. Nghiên cứu tại Scotland chỉ ra rằng sưng và đau tại chỗ tiêm xảy ra ở trên 80% các bệnh nhân. Nghiên cứu này cũng nêu ra một số dấu hiệu và triệu 7 chứng khác ít phổ biến hơn bao gồm cảm giác khó chịu (74%), sốt (65%), chán ăn (52%), buồn nôn (52%) và chảy dịch tại chỗ tiêm (52%) [97].

Triệu chứng phù nề ít xảy ra hơn và thường trong các trường hợp bệnh rất nặng. Việc điều trị cho các trường hợp bệnh than lây qua tiêm truyền khá phức tạp, đòi hỏi kết hợp sử dụng kháng sinh truyền tĩnh mạch và biện pháp hỗ trợ như liệu pháp hút áp lực âm trên bệnh nhân có hội chứng chèn ép. Các loại kháng sinh thường được sử dụng là Clindamycin, Metronidazole, Ciprofloxacin; ngoài ra Penicillin/Benzylpenicillin cũng có thể sử dụng sau khi thực hiện xét nghiệm độ nhạy của kháng sinh [34, 72, 98, 101, 111]. Nguồn truyền nhiễm và phương thức lây truyền của bệnh than Ổ chứa là động vật: thường là động vật ăn cỏ bao gồm vật nuôi (trâu, bò, cừu, ngựa, dê, chó, mèo.) và động vật hoang dã.

Bệnh than thường không lây truyền trực tiếp từ động vật sang động vật hay từ người sang người. Người hay động vật bị nhiễm bệnh khi hít, ăn/uống phải thực phẩm có nha bào của vi khuẩn than hoặc có sự phơi nhiễm vết thương hở trên da/niêm mạc với nha bào của vi khuẩn này [5, 16]. Ngoài ra, nha bào than cũng có thể xâm nhập vào cơ thể vật chủ trong quá trình thực hiện các thủ thuật xâm lấn như tiêm/truyền [26, 122]. Sau khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, nha bào hoạt hóa/nảy mầm, chuyển sang dạng sinh dưỡng, nhân lên và tạo ra các độc tố gây phù nề, độc tố gây chết [131].

Ngày nay với sự thuận tiện đi lại, lưu thông, hoạt động buôn bán, trao đổi động vật hoang dã và gia súc của con người được cho là nguyên nhân chính cho sự lan truyền của bệnh than trên toàn thế giới [131].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ