Chương 1: GIỚI THIỆU Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây bệnh ở động vật hữu nhũ và người. Bệnh truyền lây từ động vật sang người chủ yếu qua các vết cắn do động vật mang virus dại. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (năm 2018), trung bình mỗi năm có khoảng 59.000 người tử vong vì bệnh dại tại trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ (trong đó có 99% trường hợp người tử vong do nhiễm virus dại từ chó; 40% là trẻ em dưới 15 tuổi; 95% ca tử vong là ở Châu Á và Châu Phi) và 29 triệu người phơi nhiễm với bệnh dại và phải điều trị dự phòng (trong đó 40% là trẻ em dưới 15 tuổi ở các nước Châu Á và Châu Phi), gây tổn thất kinh tế ước tính khoảng 8,6 tỷ USD. Ngày Thế giới phòng chống bệnh dại 28/9 được thành lập nhằm nâng cao nhận thức và vận động người dân đoàn kết loại trừ bệnh dại trên toàn cầu.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng của bệnh dại. Nếu như trong những năm 1990, bệnh dại có xu hướng giảm, thì từ năm 2014 trở lại đây lại có xu hướng tăng lên, đặc biệt bệnh dại do bị chó cắn. Theo báo cáo của Ban phòng chống dại - Bộ Y tế, trong giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 8/2021, cả nước ghi nhận 378 người tử vong vì bệnh dại tại 52/63 tỉnh, thành phố; trung bình mỗi năm có 76 người tử vong, trong đó có các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo báo cáo của Cục Thú y, từ năm 2017 - 8/2021 đã có 41 tỉnh, thành phố báo cáo phát hiện dịch bệnh dại trên động vật, buộc tiêu hủy 15.082 con chó (chiếm khoảng 0,04% tổng đàn) mắc bệnh dại, nghi mắc bệnh dại; trung bình mỗi năm xử lý 3.016 con, dao động từ 1.
Cả nước có 35 tỉnh, thành phố tổ chức chủ động lấy mẫu giám sát, xét nghiệm bệnh dại với tổng cộng 2.068 mẫu được xét nghiệm, trong đó có 227 (10,98%) mẫu dương tính với virus dại. Đây là các mẫu được lấy từ chó nghi mắc bệnh dại nên tỷ lệ dương tính là khá cao. Trong đó, tại khu vực các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long có 49 mẫu được giám sát tại các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang và Cà Mau với số mẫu dương tính là 43 mẫu chiếm 87,75%. Đánh giá được mức độ nguy hiểm và tầm quan trọng của công tác phòng chống dịch bệnh dại ở động vật, đặc biệt là công tác phòng-chống dịch bệnh dại trên chó, ngày 13 tháng 02 năm 2017, Thủ tướng đã phê duyệt “Chương trình quốc gia khống chế và tiến tới loại trừ bệnh dại giai đoạn 2017-2021” giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNN&PTNT) và Bộ Y tế chủ trì phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành và Chính quyền trong cả nước thực hiện chương trình này.
Virus dại lưu hành tự nhiên trong vật chủ là động vật hoang dã (Rupprecht et al. Sự lưu hành của virus dại đã dẫn đến sự thay đổi vật chủ từ chó sang một số loài hoang dã (Badrane and Tordo, 2001 ; Troupin et al. So với tác hại liên quan đến chó nhà, đã có ít trường hợp tử vong do con người báo cáo trên toàn cầu liên quan đến virus dại ở động vật hoang dã (Müller et al., 2012; Velasco-Villa et al., 2017; Vora et 1 al. Việc lưu hành virus dại ở động vật hoang dã có thể lây nhiễm lan sang các động vật hoang dã khác, động vật nuôi và gia súc khác, dẫn đến việc con người tiếp xúc và thực hiện điều trị sau phơi nhiễm (Christian et al., 2009; Nunan et al., 2002; Pieracci et al.
Việc nghiên cứu bệnh dại ở động vật hoang dã được nghiên cứu nhiều ở các nước Châu Mỹ và nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên ở Việt nam nói chung và ĐBSCL nói riêng thì việc nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, đề tài: “Nghiên cứu tình hình bệnh dại trên một vài loài động vật ở Đồng bằng sông Cửu Long và xây dựng qui trình phòng chống bệnh” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu: - Xác định tổng đàn và tỉ lệ tiêm phòng bệnh dại trên chó từ năm 2017-2020 tại ĐBSCL; - Xác định kháng thể kháng virus dại trên đàn chó thả rông và tỷ lệ đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng bệnh dại trên chó; - Xác định kháng thể kháng virus dại ở một số động vật hoang dã; - Xác định trình tự Nucleotide của virus dại trên gen N và đăng ký trên NCBI. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu Đây là công trình nghiên cứu về tình hình dịch tễ của bệnh dại và so sánh cơ sở di truyền giữa thực địa và các chủng liên quan, là cơ sở khoa học cho việc xây dựng thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh có hiệu quả, tiến tới loại trừ bệnh dại tại khu vực ĐBSCL và góp phần bảo vệ sức khỏe con người.
Điểm mới của nghiên cứu - Xác định kháng thể kháng virus dại của chó thả rong chưa tiêm phòng; - Xác định kháng thể kháng virus dại trên dơi; - Xác định được trình tự Nucleoprotein của virus dại ở động vật tại khu vực ĐBSCL và đăng ký trình tự trên Genbank. 2 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Virus gây bệnh dại 2.1 Sơ lược về lịch sử phát hiện virus gây bệnh dại Theo Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Thị Kiều Anh (2014), dại là bệnh truyền nhiễm gây viêm não và màng não nguyên phát của động vật có vú. Đây là một căn bệnh cổ xưa nhất của động vật và có thể truyền qua người khi tiếp xúc với virus dại qua niêm mạc và da bị tổn thương. Từ hàng nghìn năm trước công nguyên các thầy thuốc cổ của phương đông đã mô tả một căn bệnh tương tự bệnh dại đó là bệnh sợ nước, sợ gió mà người và chó mắc phải.
Người Lưỡng Hà cho rằng vết cắn của chó cũng nguy hiểm như nọc độc của rắn hoặc bọ cạp. Chó bị bệnh dại được xem là hiện thân của quỷ và không thể kiểm soát được (Yuhong, 2001). Mặc dù chó được xem là nguyên nhân chính gây bệnh ở châu Á, nhưng một số loài động vật hoang dã khác cũng được xem là vật truyền bệnh quan trọng đặc biệt là chó sói ở Iran, chó rừng ở Afghanistan, Pakistan, Nepal và Ấn Độ và cầy mangut ở Ấn Độ (WHO, 2018). Bệnh dại trên chó được mô tả sớm nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1586.
Năm 1852, một con chó sói nhiễm virus dại đã tấn công hơn 100 người tại thị trấn Adalia ở Anatolia, một số người trong số đó “phát điên” và chết (Nadin-Davis and Bingham, 2004). Nhật Bản ghi nhận bệnh dại vào năm 1732 ở Nagasaki, bệnh lây lan nhanh chóng và có nhiều người chết. Trong đợt bùng phát dịch ở Trung Quốc vào năm 1860, một người đàn ông chết vì bệnh dại. Phương thức lây bệnh và cơ chế bệnh sinh vẫn chưa rõ nên điều trị bệnh dại vẫn chỉ giới hạn trong sự cầu nguyện, sợ hãi và bất lực (Tojinbara, 2002).
Đầu thế kỷ XIX, các minh chứng về tính lây nhiễm trong nước dãi của chó dại, bằng cách gây bệnh dại thực nghiệm trên thỏ và thử nghiệm gây miễn dịch cho cừu bằng cách tiêm tĩnh mạch nước bọt của con vật bị bệnh dại truyền sang con vật không bệnh. Năm 1963 Atanasiu et al, dưới kính hiển vi điện tử đã nghiên cứu cấu trúc, hình thái của virus dại trên động vật thí nghiệm và nuôi cấy tế bào. Vào năm 1884 sự tiến bộ trong điều trị dự phòng sau phơi nhiễm được nhà bác học Louis Pasteur nghiên cứu. Ông đã nghiền não tủy của chó mắc bệnh dại và gây nhiễm dưới màng cứng não thỏ.
Não thỏ dại là tác nhân mang hoạt tính sinh học gây bệnh. Nghiền và tiêm truyền tác nhân này trên não thỏ sau hơn 100 lần, ông đã tạo ra một virus biến đổi có ái tính thần kinh, bất hoạt một phần, có thời gian ủ bệnh được thu ngắn và cố định 6 - 7 ngày, ông gọi nó là “virus dại cố định”. Ngày 6 tháng 7 năm 1885, lần đầu tiên Pasteur đã dùng vaccine não thỏ bất hoạt tiêm cho cậu bé Joseph Meister 7 tuổi, bị một con chó lên cơn dại cắn nhiều vết. Sau khi được điều trị 13 mũi tiêm vaccine dại của Pasteur cậu bé đã được cứu thoát khỏi bệnh dại, sau đó vaccine nhanh chóng được nhân rộng trên toàn cầu (Chakrabarti, 2010).
Năm 1903, Negri đã phát hiện những thể vùi đặc hiệu trong tế bào thần kinh của động vật mắc bệnh dại, đó là những thể Negri, một dấu hiệu quan trọng để khẳng định 3 bệnh dại ở người hay động vật (Phạm Nguyễn Minh Quý, 2007). Năm 1963, dưới kính hiển vi điện tử, Atanasiu cùng cộng sự đã nghiên cứu cấu trúc, hình thái của virus dại trên động vật thí nghiệm và trên nuôi cấy tế bào (Đinh Kim Xuyến, 2006). Vào những năm 1980, ứng dụng tiến bộ của kỹ thuật sinh học phân tử và sự phát triển của công nghệ sinh học người ta đã sử dụng kỹ thuật kháng thể đơn dòng để chẩn đoán các chủng virus dại gây bệnh ở người và động vật. Bằng kỹ thuật PCR người ta đã có thêm nhiều hiểu biết về trật tự sắp xếp của các gene virus.
Nhờ kỹ thuật sinh học phân tử đã mang lại nhiều tiến bộ cho việc sản xuất các vaccine dại tái tổ hợp (Tarantola, 2017). Vaccine sớm nhất được sử dụng ở Ấn Độ là tủy sống đã khô của Pasteur, sau đó nó được thay thế bằng vaccine Semple vào năm 1911, và vaccine này là vaccine phòng bệnh dại được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, cho đến năm 2000 (Cheema, 2015). Năm 1984, hạt virus dại đã được mô tả như một hạt ARN được bao phủ bởi một lớp vỏ ngoài cần thiết có khả năng lây nhiễm của chúng và đặc biệt là có hình giống viên đạn (Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Thị Kiều Anh, 2014).2 Phân loại virus dại Rabies virus (RABV) thuộc chi Lyssavirus, họ Rhabdoviridae, bộ Mononegavirales (MNV). RABV là tác nhân gây ra bệnh dại cổ điển ở động vật và người, là một loại virus hướng thần kinh cao ở động vật có vú.
Có hơn 100 chủng thuộc họ Rhabdoviridae phân bố trong tự nhiên có thể gây nhiễm cho động vật. Dựa vào tính chất sinh học, virus dại được chia thành hai loại là virus dại đường phố và virus dại cố định (Wunner, 2002).