đặt vấn đề nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Các nhà khoa học người Pháp trong đó có Anfray (1901), Pignet (1902) và Heim (1904) đã nghiên cứu khai thác và chế biến nhựa Trám để phục vụ cho công nghệ chế biến xà phòng, dầu thơm, véc ni và xi đánh dày (Tập san kinh tế Đông dương - 1994). Theo tài liệu này người ta đã chưng cất được 18 - 20 kg dầu, 57 đến 60 kg côlôphan trong 100 kg nhựa Trám. Các kết quả nghiên cứu này đã được ứng dụng để khai thác nhựa Trám ở một số nước có trám phân bố tự nhiên.
Nghiên cứu tính chất gỗ của các loài cây nhiệt đới đã thấy các loài trám có tỷ trọng gỗ thay đổi trong khoảng 0,50 - 0,56 (Reyes al, 1992) [34]. Các nghiên cứu tiếp 10 theo được tập trung vào việc khai thác các nguồn lợi từcây Trám trắng, cụ thể là Trisonthi người Pháp đã nghiên cứu đặc điểm của một số loài cây có quả ăn được của rừng nhiệt đới trong đó có loài Trám trắng, nghiên cứu giá trị kinh tế của quả và nhựa Trám trắng của Griffith người Anh, nghiên cứu chế biến và bảo quản quả Trám của Lin - Hetong người Trung Quốc, nghiên cứu thành phần dược phẩm trong quả Trám trắng của Ito-M người Nhật Bản, (Tổng hợp của Trerrs CD - Từ 1973 đến10/1999) [35]. Nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam 1. Đặc điểm phân loại, lâm học và giá trị của Trám đen Chi Canarium ở nước ta gồm 8 loài, trong đó 2 loài được trồng ăn quả là Trám trắng và Trám đen, loài có thể ăn quả ít giá trị hơn là Trám ba cạnh hay Trám hồng (C.
Trám đen (Canarium tramdemum Dai & Yakovlev, hoặc C. Trám đen là cây gỗ lớn, song kích thước nhỏ hơn Trám trắng, cây có chiều cao 25 - 30 m, đường kính trên 90 cm, thân tròn thẳng, tán rộng và xanh quanh năm (Lê Mộng Chân và cs. Lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét hình thuôn trái xoan, dài 6 - 12 cm, rộng 3 - 6 cm. Cụm hoa chùm, viên chùy.
Hoa tạp tính hay đơn tính màu vàng nhạt. Quả hạch hình trứng, dài 3,5 - 4,5 cm, đường kính quả 2,0 - 2,5 cm (thực ra, mô tả về kích thước quả của các tác giả Trung Quốc như phần trên là sát với thực tế hơn, vì Trám đen có quả hình trứng hẹp, trong khi Trám trắng có quả hình trứng hơi bầu). Khi chín quả Trám đen có màu đen sẫm (vì thế có tên là Trám đen), thịt quả mầu hồng.Hạt hóa gỗ rất cứng, có 3 ô, mỗi ô có 1 nhân màu trắng (Vũ Văn Dũng et al, 2009) [12].Trám đen có phân bố tự nhiên từ Nam Trung Quốc đến Việt Nam. Ở Việt Nam cây mọc trong rừng thứ sinh ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miền Trung: Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Bình,.
11 Tuy vậy, theo công bố mới đây thì Trám đen có phân bố chủ yếu cũng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (Vũ Văn Dũng et al, 2009) [12]. Trám đen có thể trồng theo phương thức nông lâm kết hợp: 2 - 3 năm đầu có thể xen cây nông nghiệp như Lạc, Lúa, Đỗ, Sắn. Đây là cây đa tác dụng, quả sau khi ngâm (om qua nước nóng) ăn rất ngon. Quả tươi giã lấy nước uống giải độc do ăn phải cá nóc hoặc cá thối, chữa hóc xương cá.
Quả khô tán bột, rắc chữa nứt nẻ da, lở miệng và trị sâu răng. Vì thế quả Trám đen được tiêu thụ ở nhiều thị trường trong nước chủ yếu là ở dạng thực phẩm ăn tươi. Nhu cầu thị trường về quả Trám đen rất lớn, trong khi lượng quả bán ra chưa nhiều nên quả tươi Trám đen có giá cao hơn Trám trắng, khoảng 10.000 đ/kg quả tươi, trong khi giá quả tươi Trám trắng là 6. Các nghiên cứu về chọn giống lấy quả Từ năm 1993 Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống, trong đó mới đề cập đến các tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy gỗ (Bộ Lâm nghiêp, 1977) [3].
Sau này, trong Tiêu chuẩn công nhận giống (Bộ NN&PTNT, 1998, 2003) [4] đã đề cấp đến tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy các sản phẩm ngoài gỗ nói chung mà chưa nêu cụ thể. Đến tiêu chuẩn công nhận giống gần đây (Bộ NN&PTNT, 2006) mới có quy định về tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy sản phẩm ngoài gỗ từ rừng trồng và từ trồng cây phân tán [6]. Nghiên cứu về chọn giống Trám trắng lấy quả đã được Hoàng Thanh Lộc (2001 - 2005) [22] tiến hành tại tỉnh Phú Thọ, đã chọn được 20 cây trội sai quả, trong đó có một cây 30 năm tuổi nhiều quả nhất có thể đạt 300 kg quả. Các cây ghép từ các cây trội này mới được trồng trong vườn tập hợp các dòng vô tính tại khu Văn phòng của Công ty cổ phần giống lâm nghiệp vùng Bắc Bộ (ở Trạm Thản - 12 Phú Thọ) cho thấy trong 20 cây được chọn ban đầu sau 4 năm chỉ một số cây có quả, trong đó chỉ 3 cây có nhiều quả nhất.
Tuy vậy, chưa được khảo nghiệm ở giai đoạn tiếp theo để xác định tính ổn định di truyền của chúng và chưa có những nghiên cứu về chất lượng quả của những cây sai quả này. Viện Cải thiện giống và Phát triển lâm sản hiện cũng đang tiến hành khảo nghiệm tại Bắc Kạn cho một số dòng Trám trắng lấy từ Trạm Thản (đây là một phần của dự án "Trồng thử nghiệm và xây dựng mô hình một số cây lâm nghiệp 15 cho năng suất cao tại tỉnh Bắc Kạn"). Kết quả nghiên cứu về hạt giống một số vùng khác nhau trong đề tài "Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Trám trắng" của Viện Khoa học Lâm nghiệp 1995 - 1999 cho thấy Trám trắng phân bố tại vùng Hòa Bình có chất lượng hạt giống tốt nhất, ở giai đoạn vườn ươm cây con sinh trưởng khỏe mạnh và vượt trội so với các vùng khác. Trần Đức Mạnh (2007) [25] đã nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Trám đen phục vụ mục tiêu lấy gỗ và lấy quả, nhưng mới chỉ nghiên cứu chọn cây mẹ, kỹ thuật ghép cây và phương thức trồng rừng mà chưa nghiên cứu chọn giống theo hướng chọn lọc cây trội một cách đầy đủ và khảo nghiêm giống theo các quy định cần thiết, việc trồng rừng lại theo phương thức trồng hỗn giao để lấy gỗ nên vẫn không mang lại kết quả mong muốn về chọn giống lấy quả.
Trám trắng và Trám đen đã được nhân dân ta ở miền Bắc trồng từ trước những năm 1950. Từ những năm 60 có nơi đã trồng hàng chục hecta như Lạc Thủy - Hòa Bình trồng thuần loại khoảng 30 ha. Trồng từ năm 1980 - 1981 đến năm 1998 đường kính bình quân đạt 18 - 19 cm, chiều cao bình quân đạt 17 - 18 m (Nguyễn Bá Chất, 1998) [8]. Từ thập niên 60 đến nay nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, điển hình là nghiên cứu gây trồng Trám trắng tại Cầu Hai và Hữu Lũng của Nguyễn Văn Lê, Lưu Phạm Hoành (1985) [24] đã gây trồng 5-10 ha thuần loại hoặc theo băng.
Giai đoạn đầu sinh trường nhanh nhưng từ tuổi 7 trở lên lượng tăng trưởng hàng năm chậm dần, có nơi bị sâu 13 đục ngọn phá hoại thường xuyên (Nguyễn Bá Chất, 1998) [8]. Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn Trám đã phát hiện được sâu Vòi Voi đục búp trám thuộc họ Curculionidae, bộ Coleoptera và đã đưa ra hình thái, tập tính sinh học và phương pháp phòng trừ như dùng bẫy đèn lúc 6-7 giờ, dùng vợt và rỏ tre đi rung từng cây hứng sâu trưởng thành và bắt giết, dùng thuốc bột thấm nước 666 loại 6% nồng độ từ 1/200-1/250 phun vào búp hoặc dùng thuốc sữa DDT 5% nồng độ 1/150 phun ướt búp ngọn trám (Nguyễn Đình Hạnh,1965 [13]; Đặng Văn A, 1968 [1]). Từ năm 1995 đến 1999 nhóm cán bộ Phạm Đình Tam, Trần Lâm Đồng và Nguyễn Sỹ Đương (năm 1998) [28] đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật lâm sinh để trồng rừng Trám trắng phục vụ mục tiêu cung cấp gỗ công nghiệp. Đề tài đã đề xuất được phương thức trồng và chọn loài cây phù trợ phù hợp để xây dựng rừng Trám theo hướng cung cấp gỗ công nghiệp.
Sau đó cũng nhóm cán bộ này đã xây dựng “Quy phạm kỹ thuật trồng rừng Trám trắng” (Bộ NN&PTNT, 2001) [5]. Nghiên cứu về trồng Trám trắng hỗn loại với các loài cây lá rộng bản địa cho thấy so với trồng thuần loại thì trồng hỗn loại Trám trắng có tỷ lệ sống cao hơn, tỷ lệ sâu đục ngọn giảm, sinh trưởng tốt hơn nhưng so với các loài khác thì trám có sinh trưởng kém hơn (Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất và cs, 2005) [31].So sánh sinh trưởng của phương thức trồng hỗn giao giữa Trám trắng và Lát hoa với trám thuần loại lại cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng của phương thức hỗn giao kém hơn trồng thuần loại. Trám trồng thuần loại đạt tỷ lệ sống 92 % và trữ lượng là 5,58 m3/ha trong khi đó Trám với Lát đạt tỷ lệ sống 87% và trữ lượng 4,25 m3/ha (Huỳnh Đức Nhân và cs, 2006) [26]. Nghiên cứu của Phạm Đình Tam, Trần Đức Mạnh, Phạm Đình Sâm (2000 - 2005) [30] về chọn lập địa, kỹ thuật trồng rừng Trám với mục đích lấy gỗ và lấy quả đã cho thấy trồng Trám ở Hòa Bình tốt hơn ở Đại Lải và Vĩnh Phúc và đi đến nhận định là Trám không nên trồng ở lập địa xấu, tầng đất mỏng, các chỉ tiêu hóa tính dưới trung bình (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 24-2001) [5].
Tuy vậy, đáng 14 tiếc là các tác giả đã không nêu rõ các nghiên cứu về chọn giống lấy quả và khảo nghiệm giống. Trước đây gỗ Trám trắng và Trám đen đều phân vào nhóm 7 (Bộ Lâm nghiệp, 1977) [3]. Nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2002) cho thấy tỷ trọng gỗ của Trám trắng là 0,59, Trám đen 0,73. Tuy vậy, số liệu này chưa ghi rõ độ ẩm của mẫu gỗ khi xác định tỷ trọng và có thể hơi cao.
Lâm trường Hữu Lũng I - Lạng Sơn đã đi tiến hành nghiên cứu ghép cây Cây Trám ở các thời vụ khá nhau, kết quả bước đầu cho thấy đối với Cây Trám thì ghép vào vụ Xuân sẽ cho tỷ lệ sống cao và sức sinh trưởng tốt hơn. Trong thời gian này tỉnh Lạng Sơn đang phát triển dự án trồng cây Trám ghép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bước đầu đã được người dân chấp nhận.