mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này [9]. n 12 Thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides năm 60 – 20 (TCN) giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền mống cho nền y dược học [9]. Năm 1952, tác giả người Pháp A.
Pétélot có công trình “Les phantes de médicinales du Cambodye, du Lao et du Việt Nam” gồm 4 tập nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thục vật ở Đông Dương. Như vậy, những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời, hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên, do sự hạn chế của trình độ khoa học đương thời nên những công trình này chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê và chỉ ra công dụng của chúng, chưa có cơ sở để chứng minh thành pahanf hóa học của chúng có tồn tại trong đó và tham gia vào việc chữa bệnh như thế nào. Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật phát triển thì vấn đề này mới được làm sáng tỏ, tạo độ tin cậy đối với người bệnh khi sử dụng.
Tình trạng bảo tồn tài nguyên cây thuốc ở một số nước trên thế giới * Các mối đe dọa đối với tài nguyên cây thuốc Nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới bị đe dọa bởi các nguyên nhân chính sau: Tàn phá thảm thực vật: Thảm thực vật bị tàn phá do áp lực của dân số và các hoạt động phát triển như mở rộng đất canh tác, khai thác gỗ, làm đường, xây dựng các công trình thủy điện, vv. Hoạt động du canh: Hoạt động du canh đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong điều kiện dân số thấp. Đến nay, do áp lực dân số ngày càng cao trong khi quĩ đất để du canh càng ít đi, dẫn đến chu kỳ quay vòng càng ngắn. Kết quả là tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng ngày càng bị tàn phá và mất môi trường sống.
Khai thác quá mức: Có đến 80% cây thuốc sử dụng ở Trung Quốc và 95% loài cây thuốc ở Ấn Độ được khai thác từ hoang dại. Việc khai thác quá n 13 mức tài nguyên cây thuốc hoang dại gây ra bởi áp lực tăng dân số và nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng, không những cho nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu. Điều này dẫn đến lượng tài nguyên tái sinh không bù đắp được lượng bị mất đi. Lãng phí tài nguyên cây thuốc: Gây ra bởi (i) thói quen sử dụng hoang phí, (ii) hoạt động thu hái mang tính chất hủy diệt, (iii) điều kiện bảo quản kém, (iv) thiếu các phương tiện vận chuyển và thị trường thích hợp.
Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên: Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc ở nhiều nước tăng lên sau thời kỳ độc lập do chính sách khuyến khích phát triển các nền y học truyền thống. Khai thác không có kế hoạch. Thay đổi cơ cấu cây trồng. Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa: Hầu hết tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của các cộng đồng truyền thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác hay từ người dạy nghề sang người học nghề.
Ngày nay, do nhu cầu phát triển kinh tế, một bộ phận thế hệ trẻ không quan tâm đến việc thừa kế tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc từ thế hệ trước. Sự sụp đổ và mất các nền văn hóa truyền thống. * Một số hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc - Bảo tồn nguyên vị (in situ): Là việc xây dựng các khu bảo tồn chính thức của nhà nước như các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, vv. Hay duy trì khôi phục các khu vực được bảo vệ không chính thức của các cộng đồng.
Trước năm 1984, bảo tồn tài nguyên cây thuốc hầu như không được xác định là mối quan tâm chính của các tổ chức bảo tồn. Tuyên ngôn Chiang Mai (1988) đã xác định cây thuốc là một phần quan trọng của sinh giới. Chiến lược đa dạng sinh học toàn cầu đã xác định tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học cây thuốc trong “Hành động 40, 41, 67”. Các mục này sau đó đã được phê chuẩn trong hội nghị môi trường toàn cầu tại Rio de Janeiro [2].
Mặc dù vậy, dường như chỉ có một số ít quốc gia theo đuổi trách nhiệm bảo tồn tài nguyên cây thuốc. Một trong các quốc gia này là Sri Lanka, với n 14 400 khu bảo tồn đã được xác định, trong đó có 50 khu bảo tồn về cây thuốc. Các luật nghiêm khắc đã được áp dụng trong các khu bảo tồn đó. Bộ y tế bản địa (Ministry of Indigenous Medicine) đã được thành lập vào năm 1980.
Dự án 3320 đã được khởi đầu từ năm 1986 với các mục tiêu liên quan đến bảo tồn nguyên vị là (i) khuyến cáo chính phủ sự cần thiết phải bảo tồn nguyên vị cây thuốc, (ii) xác định các mối đe dọa đối với cây thuốc, (iii) xác định các loài bị đe dọa nhằm nhân giống và trồng trong môi trường tự nhiên [2]. Tại Ấn Độ, nhằm tăng cường công tác bảo tồn nguyên vị tài nguyên cây thuốc ở các bang miền nam. Quĩ khôi phục các nền y học địa phương (FLHT) đang điều phối hoạt động khởi xướng bảo tồn cây thuốc với hoạt động chính là thiết lập một mạng lưới công tác giữa 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị ở 3 bang Miền nam trong giai đoạn 1993-1997. Mục tiêu của hoạt động là (i) kiểm kê cây thuốc được sử dụng thuộc cả 2 hệ thống là y học của các tộc người và y học truyền thống, (ii) tư liệu hóa phân bố tự nhiên của cây thuốc và xác định các địa điểm bảo tồn nguyên vị và chuyển vị, (iii) tư liệu hóa và góp phần khôi phục các nền y học truyền thống liên quan đến đa dạng sinh vật cây thuốc và (iv) thiết kế các chương trình bảo tồn nguyên vị và chuyển vị định hướng người dân mà không chỉ đơn thuần là định hướng công nghiệp [2].
Tại Trung Quốc, đã có 700 khu bảo tồn thiên nhiên, 480 khu phong cảnh và 510 công viên rừng được thành lập. Một số khu vực địa lý đã được công bố là các khu được bảo vệ cho sự sinh sống của các loài cây có nguy cơ bị đe dọa. - Bảo tồn chuyển vị (ex situ): Được thực hiện tại các vườn thực vật, vườn sưu tầm, ngân hàng hạt, nhà kính, vv. Bảo tồn chuyển vị có thể bao hàm cả việc trồng trọt không chính thức các loài cây hoang dại ở các vườn ươm, vườn gia đình hay vườn thực vật (VTV) cộng đồng [2].
Năm 1989, Tổ chức Bảo tồn các vườn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng “Chiến lược bảo tồn ở các VTV”. BGCI đã ưu tiên bảo tồn cây thuốc trong các VTV trong tương lai. Trên toàn thế giới, có khoảng 1.500 VTV đã được xây dựng, trong đó có 152 vườn của 33 quốc gia chuyên trồng cây thuốc hay trồng cây thuốc kết hợp với các loài cây kinh n 15 tế khác. Các quốc gia có nhiều vườn cây thuốc hay vườn có bộ sưu tầm cây thuốc là Liên Xô (cũ) (31 vườn), Nhật Bản (26), Mỹ (13), Ba Lan (10), Pháp (10), Ấn Độ (6), Trung Quốc (5), v.
Tại Ấn Độ, một “Mạng lưới phân phối cơ sở dữ liệu cây thuốc” đã được thành lập, với sự đóng góp thông tin của 9 tổ chức “nút”. Mạng lưới này đã thu thập, bảo tồn, nhân giống và sử dụng hơn 8.000 loài cây thuốc trong 48 cơ sở bảo tồn nguyên vị [2]. Tại Trung Quốc, đã có khoảng 50 loài cây thuốc thuộc diện quí hiếm được thu thập và trồng trong các VTV và vườn cây thuốc [2]. Các VTV có trồng cây thuốc khác trên thế giới có thể kể đến là vườn cây thuốc Tokyo (Nhật Bản) được thành lập năm 1945 hiện trồng khoảng 1.600 loài cây thuốc; VTV dân tộc (Mexico) được thành lập năm 1979 với diện tích 4 ha, v.
Nghiên cứu đa dạng sinh học, tài nguyên cây thuốc và việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 1. Nghiên cứu đa dạng sinh học tại Việt Nam Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học. Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu trải dài trên 15 vĩ độ từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và tính đa dạng sinh học cao [5]. Việt nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, cũng như sự phong phú về tri thức sử dụng cây cỏ.
Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ… Khoảng 3.200 loài cây cỏ và nấm đã được ghi nhận là có giá trị làm thuốc. Cây tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là Đông Bắc, Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương, Bạch Mã, Tây Nguyên, cao nguyên Đà Lạt [5]. Bên cạnh đó, do đặc điểm cấu trúc, các kiểu rừng nhiệt đới ẩm thường không có loài chiếm ưu thế rõ rệt nên số lượng cá thể của từng loài thường hạn chế và bị khai thác. Các cây gỗ quý, nhiều loại cây làm thuốc như Hoàng Liên chân gà (Coptis chinensis), Thổ phục linh (Smilax grabra Wall.
n 16 Việt Nam với tính ĐDSH cao đã được công nhận là một trong các quốc gia cần được ưu tiên cho bảo tồn toàn cầu. Việt Nam đã tham gia công ước ĐDSH từ năm 1994. Từ đó đến nay Chính phủ Việt Nam đã quan tâm và đầu tư một cách đáng kể cả nhân lực và tài chính để thực thi các cam kết và nghĩa vụ của mình đối với công ước. Năm 1995 kế hoạch hành động đa dạng sinh học đầu tiên của Việt Nam đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt.
Kể từ khi ban hành kế hoạch này là văn bản có tính pháp lý và là kim chỉ nam cho các hành động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam [5]. Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên bằng việc ban hành nhiều luật lệ và chính sách nhằm bảo vệ thiên nhiên và môi trường như Luật bảo vệ môi trường, Luật đa dạng sinh học, các quyết định, nghị định, chỉ thị,… Trong những năm qua, việc nghiên cứu hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những hoạt động ưu tiên hàng đầu. Tại tỉnh Thái Nguyên đã có sự quan tâm đến việc nghiên cứu đa dạng sinh học.