Đặt vấn đề Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao và là một trong những quốc gia có thế mạnh rất lớn về xuất khẩu gỗ và mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của ngành Lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, dẫn đến nhu cầu các sản phẩm từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ ngày càng tăng về chất lượng cũng như số lượng. Ngành công nghiệp chế biến lâm sản đang đứng trước nhiều thách thức thiếu nguyên liệu phục vụ sản suất và xuất khẩu, vì vậy chuyển đổi sang sử dụng những lâm sản có thời gian sinh trưởng nhanh, tuổi thành thục công nghệ ngắn để quy hoạch thành vùng rừng nguyên liệu với việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên rừng là vấn đề được quan tâm hiện nay trong chế biến lâm sản. Nước ta đã có chủ trương phát triển trồng rừng, đặc biệt là các loại cây sinh trưởng nhanh như: Thông, mỡ, keo, tre, nứa,.
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới nên các sinh vật hại gỗ nói chung và nấm gây biến màu gỗ nói riêng phát triển rất mạnh. Do đó, để hạn chế các tác nhân gây hại lâm sản một số biện pháp kỹ thuật đã được sử dụng rộng rãi như: chọn mùa chặt hạ, ngâm dưới ao hồ, hun khói, kê xếp gỗ ở những nơi thoáng mát,. Tuy nhiên khi áp dụng các biện phap bảo quản trên cùng tồn tại một số nhược điểm đó là thời gian xử lý kéo dài gây khó khăn trong việc chủ động nguồn nguyên liêu, ngâm nước lâu ngày sẽ gây ô nhiễm môi trường nước và không khí khu vực xử lý. Nhằm giải quyết vấn đề đó ngành chế biến lâm sản đã và đang không ngừng nghiên cứu công trình công nghệ bảo vệ gỗ.
Hiện nay do việc sử dụng các chất có nguồn gốc hóa học đã làm ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí), làm mất cân bằng sinh học. Ngoài ra, khi sử dụng các loại thuốc bảo quản gỗ có nguồn gốc hóa học là nguy cơ gây hại sức khỏe con người trước mắt cũng như lâu dài. 2 Sả java thuộc loại cây thảo sống lâu năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều. Thân rễ trắng hoặc hơi tím vàng, lá dài hẹp, mép hơi ráp, bẹ trắng, rộng.
Có đặc tính kháng bệnh, diệt côn trùng. Trên thực tế tinh dầu Sả java được sử dụng làm giảm đau rất tốt, còn trị nấm rất hiệu quả, tốt cho xương và dây chằng giúp điều trị trí nhớ kém, trầm cảm, tuần hoàn kém, giảm độ sưng tấy do côn trùng đốt, chống nấm, chống nhiễm trùng và miễn dịch tốt. Bên cạnh đó, tinh dầu sả java còn được dùng làm thuốc sát trùng, diệt ký sinh trùng, diệt mối mọt, chữa ghẻ cho gia súc… Sả java dễ trồng, khả năng ứng dụng ở các địa phương đơn giản [3]. Qua điều tra sơ bộ tại địa phương cho thấy người dân sử dụng tinh dầu sả java được chiết xuất từ lá để phòng chống sâu hại cây trồng và bảo quản gỗ.
Để có cơ sở khoa học về cách sử dụng lá Sả java tôi tiến hành nghiên cứu về khả năng bảo quản của tinh dầu Sả java thông qua đề tài: "Bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ Thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả java) chiết suất từ lá Sả java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm" 1. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục tiêu Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng chế phẩm Sả java thấm vào gỗ. Đánh giá được hiệu lực của tinh dầu Sả java đến khả năng phòng trừ mối ở gỗ Thông.
Đánh giá được hiệu lực của tinh dầu Sả java đến khả năng phòng trừ nấm ở gỗ Thông. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập. Thu thập được kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế, củng cố lý thuyết đã học và biết cách thực hiện một đề tài. 3 - Ý nghĩa khoa học Đề tài mở ra hướng nghiêm cứu bảo quản gỗ Thông bằng chế phẩm sinh học từ lá Sả java nhằm để bảo quản, kháng nấm mốc, biến màu gỗ.
Tạo ra được thuốc có tính hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật. - Ý nghĩa thực tiễn. Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu cho ta biết được chế phẩm sinh học từ lá Sả java sẽ giúp cho các xưởng chế biến gỗ và các hộ gia đình biết được công dụng của chế phẩm sinh học có tác dụng bảo quản gỗ, tẩy nấm mốc và biến màu gỗ, biết được công thức chế biến ra chế phẩm sinh học từ lá Sả java một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Dựa vào kết quả này người dân có thể áp dụng biện pháp bảo quản gỗ đạt hiệu quả tốt nhất, không gây ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của mình và mọi người xung quanh.
Có thể làm tư liệu tham khảo cho các công trình xây dựng trong việc bảo quản gỗ thông khỏi bị mối ăn, nấm mốc, biến màu gỗ. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ 2.
Bảo quản gỗ Bảo quản gỗ là biện pháp tổng hợp giữ gìn gỗ nhằm kéo dài thời gian sử dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tác động không tốt của môi trường. Bao gồm: 1) Bảo quản kĩ thuật: Là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: Cách li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao. 2) Bảo quản bằng hoá chất: Là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trực tiếp sinh vật hại gỗ. 3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: Dùng một số loài nấm, côn trùng để diệt sinh vật hại gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5].
Tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ Việc áp dụng chế phẩm bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu: Công nghệ bảo quản nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên. Nhằm tăng giá trị sử dụng, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật gây hại như mối mọt, nấm mục, v.v…gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng. Bằng biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình sử dụng lâm sản. 5 Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật của thế kỷ XX.
Nó mang lại hiệu quả quả kinh tế lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]. Gỗ, tre, nứa là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và đồ gia dụng thiết yếu khác. Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các biện pháp hạn chế sự tấn công này như: Chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói,… Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm. Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối với sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm.
Công nghệ bảo quản bằng các loại chế phẩm tự nhiên ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên cứu cơ bản về sinh vật học. Phương pháp bảo quản gỗ 2. Phương pháp ngâm thường Đặc điểm chung: Ngâm gỗ vào dung dịch bảo quản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp cổ điển nhất. Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản khác trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự chuyển động của các phần tử dung dịch bảo quản vào trong gỗ (lâm sản khác) nhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động của dung dịch bảo quản vào gỗ nhờ áp lực mao quản.
Các màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tử thuốc từ ngoài vào. Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một số phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch thuốc. Tốc độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào ẩm độ gỗ, nồng độ dung dịch, loại gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]. Phương pháp khuyếch tán Đặc điểm chung: Nguyên lý cơ bản của phương pháp chính là quá trình khuyếch tán của ion hoặc phân tử từ chế phẩm bảo quản vào gỗ.
Khi gỗ có độ ẩm cao được ngâm vào dung dịch chế phẩm có nồng độ cao, hoặc quét cao xung quanh, do chênh lệch nồng độ các phân tử hoặc ion của chế phẩm từ dung dịch chuyển vào sâu trong gỗ. Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơn gấp 2 - 3 lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]. Phương pháp nóng - lạnh Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng dần và dãn nở thể tích. Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nuớcc sẽ thoát ra khỏi gỗ.
Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong gỗ sẽ bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm chỗ sẽ nhỏ hơn. Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ bị giảm, thấp hơn áp suất môi trường xung quanh. Do sự chênh lệch áp suất này, dung dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]. Phương pháp chân không áp lực Phương pháp này gồm hai quá trình: Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lực thông thường 6 - 12.