Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG VÀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT BỔ SUNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hình phạt bổ sung và áp dụng hình phạt bổ sung 1. Khái niệm hình phạt bổ sung và áp dụng hình phạt bổ sung - Khái niệm hình phạt: Khái niệm hình phạt trong luật hình sự được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 ra đời thì khái niệm về hình phạt có sự mở rộng hơn trước so với BLHS năm 1999, áp dụng đối với cả pháp nhân thương mại phạm tội.
Tại Điều 30 BLHS năm 2015 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”. Đồng thời tại Điều 31 BLHS năm 2015 cũng khái quát vấn đề mục đích của hình phạt như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”. - Khái niệm hình phạt bổ sung: BLHS Việt Nam hiện hành không có quy phạm định nghĩa về HPBS, các nhà khoa học cũng có những quan điểm khác nhau về HPBS như PGS.TS Trần Văn Độ cho rằng: “HPBS là hình phạt được áp dụng kèm theo HPC nhằm tăng cường hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, đáp ứng mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng”. Uông Chu Lưu thì quan niệm: “HPBS là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước 6 được quy định trong BLHS do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội, phản ánh sự đánh giá của nhà nước về hành vi phạm tội và người đã thực hiện hành vi đó”.
Võ Khánh Vinh lại định nghĩa: “HPBS là hình phạt được bổ sung thêm vào HPC và không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo một HPC. Tùy theo từng trường hợp cụ thể của vụ án, kèm theo một HPC, Tòa án có thể tuyên một hoặc vài HPBS”.110] Như vậy, các nhà khoa học đều thống nhất và khẳng định HPBS là loại hình phạt được bổ sung cho HPC nhằm đạt được mục đích của hình phạt. Đồng thời, trong các khái niệm về HPBS, các nhà khoa học cũng đã nêu lên được những đặc điểm đặc trưng của HPBS. Kế thừa các quan niệm về HPBS nêu trên, đồng thời căn cứ vào quy định của BLHS năm 2015, tác giả cho rằng cần hiểu HPBS như sau: “HPBS là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc do Tòa án có thể áp dụng bổ sung thêm cho HPC và không được tuyên độc lập mà chỉ tuyên kèm theo một HPC.
Tòa án có thể áp dụng một hoặc một số HPBS đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội”. - Khái niệm áp dụng hình phạt: Áp dụng hình phạt trước hết là một hoạt động áp dụng pháp luật, là một trong những nội dung chiếm vị trí quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự, thể hiện ở chỗ chỉ có Tòa án mới có quyền áp dụng hình phạt. Đây là sự kết hợp giữa áp dụng pháp luật nội dung (BLHS) với luật hình thức (BLTTHS). Hình phạt là biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước giao cho Tòa án quyết định áp dụng với người phạm tội theo một trình tự, thủ tục pháp luật hình sự quy định, không một cơ quan nhà nước nào có quyền được áp dụng hình phạt.
Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Hình phạt do Tòa án quyết định phụ thuộc vào các tình tiết cụ thể của vụ án, có thể là nghiêm khắc, ít nghiêm khắc hoặc nhẹ nhưng phải bảo đảm đúng 7 pháp luật, công bằng, cá thể hóa. Vì vậy, để bảo đảm sự tương xứng khi áp dụng hình phạt phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng hình phạt đúng sẽ đạt được mục đích của hình phạt trong việc cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, có tác phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung.
Ngược lại, nếu áp dụng hình phạt không đúng sẽ không đạt được mục đích của hình phạt. Tóm lại, có thể hiểu áp dụng hình phạt như sau: “Áp dụng hình phạt là một nội dung của áp dụng pháp luật do Tòa án tiến hành, thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự”. - Khái niệm áp dụng hình phạt bổ sung: BLHS Việt Nam hiện hành không có quy phạm định nghĩa về áp dụng hình phạt bổ sung, các nhà khoa học cũng có nhiều quan điểm khác nhau về áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, qua các khái niệm phân tích nêu trên có thể hiểu áp dụng hình phạt bổ sung như sau: “Áp dụng hình phạt bổ sung là một biện pháp cưỡng chế do Tòa án áp dụng bổ sung thêm cho HPC mà không được quyết định một cách độc lập và bắt buộc phải đi kèm với HPC.
Người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số HPBS”. Đặc điểm của hình phạt bổ sung và áp dụng hình phạt bổ sung HPBS là một bộ phận cấu thành của HTHP trong BLHS, ngoài những đặc điểm chung của hình phạt như: Là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế Nhà nước; được quy định trong LHS; do Tòa án áp dụng đối với chính cá nhân người đã có lỗi hoặc pháp nhân thương mại trong việc thực hiện một tội phạm và theo một trình tự riêng biệt; là công cụ đảm bảo cho LHS có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ 8 cũng như nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm thì HPBS còn có những đặc điểm riêng sau: - HPBS không được áp dụng độc lập đối với mỗi loại tội phạm cụ thể mà chỉ được áp dụng bổ sung, kèm theo HPC và không được áp dụng với tất cả các tội phạm được quy định trong LHS. Khi nhân danh Nhà nước tuyên bố bản án kết tội đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án, Tòa án có thể áp dụng một trong các HPC được quy định tại khoản 1 Điều 32 BLHS năm 2015 đối với người phạm tội như: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình và khoản 1 Điều 33 BLHS năm 2015 đối với pháp nhân thương mại: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một HPC và có thể bị áp dụng một hoặc một số HPBS (khoản 3 Điều 32 và khoản 3 Điều 33 BLHS năm 2015).
Theo quy định trên, HPC về nguyên tắc luôn luôn được áp dụng độc lập, không phụ thuộc vào đối tượng là người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội, không phụ thuộc vào các loại hình phạt khác. Đối với mỗi loại tội phạm, dù là người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội Tòa án chỉ có thể áp dụng một HPC. Trong khi đó, HPBS lại không được áp dụng độc lập mà chỉ có thể được áp dụng kèm theo HPC. Nếu người phạm tội không bị áp dụng HPC (được miễn hình phạt) thì Tòa án cũng không được áp dụng HPBS đối với họ, Tòa án chỉ có thể áp dụng các HPBS cụ thể nếu điều luật về tội phạm có quy định.
HPBS của tội phạm nào chỉ được áp dụng kèm theo HPC của tội phạm đó, không được áp dụng HPBS chung chung đối với tất cả các tội trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội. Quy định HPBS kèm theo HPC giúp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, đạt được mục đích phòng ngừa và xử lý tội phạm được toàn diện. Mặt khác, nếu quy định HPBS được áp dụng độc lập thì mức độ trừng 9 trị, cưỡng chế sẽ ít nghiêm khắc, nên mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung sẽ không khả thi trong áp dụng và thực tiễn thi hành. - HPBS là biện pháp cưỡng chế Nhà nước được Tòa án áp dụng ít nghiêm khắc hơn so với HPC Quy định HPBS đối với tội phạm là giúp cho việc xử lý tội phạm được toàn diện, triệt để, bổ sung hỗ trợ cho HPC đảm bảo thực hiện được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, củng cố thêm kết quả cho HPC.
Vì vậy, cơ bản HPBS ít nghiêm khắc hơn HPC và luôn bổ sung cho HPC. Mặc dù vậy, nếu so sánh và đánh giá riêng lẻ một số HPBS với HPC thì mức độ nghiêm khắc của HPBS trong một số trường hợp có khi còn cao hơn HPC. Ví dụ: HPC là hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ so với HPBS là tịch thu tài sản (đối với người phạm tội; hay hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định so với hình phạt tiền là HPC (đối với pháp nhân thương mại phạm tội). HPBS là các biện pháp cưỡng chế không tước tính mạng, tự do thân thể, không buộc cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội.
Trong khi đó một số HPC lại có thể dẫn đến hậu quả trên cho người bị áp dụng như hình phạt tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn. Điều này làm cho HPBS thiên về khía cạnh phòng ngừa, giáo dục người phạm tội nhiều hơn là mục đích trừng trị họ. Không giống như khi áp dụng HPC thì sự trừng trị của pháp luật nặng nề hơn. Mặt khác, mặc dù có một số hình phạt vừa có thể là HPC vừa có thể là HPBS (như hình phạt trục xuất, phạt tiền) nhưng nếu bị áp dụng với tư cách là HPC thì sẽ để lại án tích cho người bị kết án trong một thời hạn nhất định.
Đây là một đặc điểm pháp lý bất lợi (hay nặng nề hơn) đối với người phạm tội của HPC so với HPBS.