Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ VÀ NHẬN DẠNG ẢNH 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ẢNH 1. Khái niệm về ảnh (Image) Ảnh trắng đen là một hàm hai chiều của cường độ sáng f(x,y), trong đó x và y là các toạ độ không gian và giá trị của hàm f tại một điểm (x,y) tỷ lệ với cường độ sáng của ảnh tại điểm đó. Ảnh màu thì f là một vector mà mỗi thành phần của vector đó chỉ ra cường độ sáng của ảnh tại điểm (x,y) đó tương ứng với dải màu.
Ảnh số là một ảnh mà hàm f(x,y) của nó đã được rời rạc hoá theo cả toạ độ không gian và cường độ sáng của nó. Số điểm ảnh xác định độ phân giải của ảnh. Ảnh có độ phân giải càng cao thì càng thể hiện rõ nét các đặt điểm của tấm hình càng làm cho tấm ảnh trở nên thực và sắc nét hơn. Nếu là ảnh trắng đen thì nó được biểu diễn theo một mảng hai chiều, còn nếu là một ảnh màu thì nó được biểu diễn theo một chuỗi các mảng hai chiều mà mỗi mảng hai chiều đó tương ứng với một dải màu.
Giá trị cường độ sáng đã được số hoá được gọi là giá trị mức xám. Điểm ảnh (Picture element hay Pixel) Ảnh trong thực tế là một ảnh liên tục về không gian và về giá trị độ sáng. Để có thể xử lý ảnh bằng máy tính cần thiết phải tiến hành số hóa ảnh. Theo tài liệu [4], số hoá ảnh là sự biến đổi gần đúng một ảnh liên tục thành một tập điểm phù hợp với ảnh thật về vị trí (không gian) và độ sáng (mức xám).
Khoảng cách giữa các điểm ảnh đó được thiết lập sao cho mắt người không phân biệt được ranh giới giữa chúng. Mỗi một điểm như vậy gọi là điểm ảnh (Picture element) hay gọi tắt là Pixel. Trong khuôn khổ ảnh hai chiều, mỗi điểm ảnh ứng với cặp tọa độ (x,y). Cũng theo [4], có thể định nghĩa: Điểm ảnh là một phần tử của ảnh số tại toạ độ (x,y) với độ xám hoặc màu nhất định.
Kích thước và khoảng cách giữa các điểm ảnh đó được chọn thích hợp sao cho mắt người cảm nhận sự liên tục về không gian và mức xám (hoặc màu) của ảnh số gần như ảnh thật. Mỗi phần tử trong ma trận được gọi là một phần tử ảnh. Ảnh được xem như là một tập hợp các điểm ảnh. Khi được số hóa, nó thường được biểu diễn bởi mảng 2 chiều.
Ví dụ: Giả sử ta có ảnh I(m*n): tức ảnh gồm m dòng và n cột và có m*n điểm ảnh. Một điểm ảnh có thể được biểu diễn bằng 1, 4, 8, 24 bits. Mỗi thành phần của mảng được gọi là một phần tử ảnh hay còn gọi là điểm ảnh và nó được biểu diễn như sau: f(0,0) f(0,1) … f(0, n) f(1. Độ phân giải ảnh (Image resolution) Độ phân giải của ảnh (Image resolution) là mật độ điểm ảnh được ấn định trên một ảnh số được hiển thị.
Theo định nghĩa trong [4], khoảng cách giữa các điểm ảnh phải được chọn sao cho mắt người vẫn có thể thấy được sự liên tục của ảnh. Việc lựa chọn khoảng cách thích hợp tạo nên một mật độ phân bổ, đó chính là độ phân giải và được phân bố theo trục x và y trong không gian hai chiều. Độ phân giải ảnh biểu diễn mức độ chi tiết của ảnh mà chúng ta có thể nhìn rõ đối tượng. Khi thay đổi các giá trị kích thước ảnh và mức xám thì sẽ có các hiện tượng thay đổi khác nhau.
Xong thực tế cho thấy khi giữ nguyên kích thước ảnh và tăng số mức xám lên thì sẽ thể hiện rõ hơn mức độ chi tiết trong ảnh. Ví dụ: Độ phân giải của ảnh trên màn hình CGA (Color Graphic Adaptor) là một lưới điểm theo chiều ngang màn hình: 320 điểm chiều dọc * 200 điểm ảnh (320*200). Như vậy, với màn hình CGA 12” ta nhận thấy mịn hơn màn hình CGA 17” với cùng độ phân giải là 320*200, vì cùng một mật độ phân giải nhưng diện tích màn hình rộng hơn thì độ mịn (liên tục của các điểm) sẽ kém hơn. Cường độ sáng của một ảnh tại một điểm ảnh (Brightness intensity) Mỗi điểm ảnh của một ảnh tương ứng với một phần của một đối tượng vật lý tồn tại trong thế giới thực.
Đối tượng vật lý này được chiếu sáng bởi một vài tia sáng mà tia sáng này bị phản xạ một phần hay hấp thụ một phần khi chiếu lên đối tượng vất lý đó. Phần ánh sáng phản xạ lại đi tới các bộ cảm biến được sử dụng để tạo ảnh cảm nhận và tạo ra các giá trị ghi nhận được đối tượng đối với từng điểm ảnh. Giá trị thu nhận được phụ thuộc vảo phổ ánh sáng phản xạ. Giá trị cường độ sáng của các điểm ảnh khác nhau chỉ có ý nghĩa tương đối mà không có ý nghĩa trong các toán hạng tuyệt đối.
Ví dụ: Giả sử ta có ảnh I với kích thước m*n và số nguyên c. Khi đó, kỹ thuật tăng/giảm độ sáng ảnh được thể hiện: I[m,n] = I[m,n] + c; với mọi (m,n). Nếu c>0 thì ảnh sáng lên và c<0 thì ảnh tối đi. Mức xám của ảnh (Gray image) Theo [4], một điểm ảnh có hai đặc trưng cơ bản là vị trí (x,y) của điểm ảnh và độ xám của nó.
Mức xám của ảnh (Gray image) là kết quả của sự biến đổi tương ứng 1 giá trị độ sáng của 1 điểm ảnh với 1 giá trị nguyên dương. Thông thường nó xác định trong phạm vi là [0, 255] tuỳ thuộc vào giá trị mà mỗi điểm ảnh được biểu diễn. Các thang giá trị mức xám thông thường là: 16, 32, 64, 128, 256. Mức 256 là mức phổ dụng, vì từ kỹ thuật máy tính dùng 1 byte (8 bit) để biểu diễn mức xám nên mức xám dùng 1 byte biểu diễn: 28=256 mức, tức là từ 0 đến 255.
Như vậy, ảnh xám là ảnh mà các điểm ảnh có mức xám nằm trong khoảng từ 0 đến 255. Nếu ảnh được lưu trữ dưới dạng một mảng hai chiều với kích thước NxN và có 2m mức xám thì số bits cần thiết để lưu trữ ảnh là: b = N * N * 2m 4 Ví dụ: Một ảnh có kích thước 512 * 512 với 256 mức xám (tức m=8) thì cần số bits lưu trữ sẽ là: 512 * 512 * 256 = 2. Ảnh nhị phân (Binary image) Ảnh nhị phân (Binary image) là ảnh chỉ có 2 mức đen trắng phân biệt, tức chỉ dùng 1 bit để mô tả 21 mức khác nhau. Mỗi điểm ảnh của ảnh nhị phân chỉ có thể là 0 hoặc 1.
Đối với ảnh xám, giá trị xám nằm trong phạm vi từ 0 đến 255. Như vậy mỗi điểm ảnh trong ảnh nhị phân được biểu diễn bởi 1 byte. Ảnh màu (Color image) Ảnh màu (Color image) là ảnh tổ hợp từ ba màu cơ bản là đỏ (Red), xanh lơ (Blue) và xanh lục (Green) để tạo nên thế giới màu, người ta thường dùng 3 byte để mô tả mức màu, khi đó các giá trị màu: 28*3 = 224 ≈ 16,7 triệu màu. Một số hệ màu như: hệ màu RGB, hệ màu CMY, hệ màu CMYK, vv.
Quan hệ giữa các điểm ảnh Lân câṇ của điểm ảnh (Image neighbrs): Giả sử có điểm ảnh p tại tọa độ (x,y), p có các lân câṇ gần nhất theo chiều ngang và dọc là: (x+1,y), (x-1,y), (x,y+1), (x,y-1). Mỗi điểm ảnh có khoảng cách đơn vị đến (x,y), và nếu (x,y) nằm trên biên của ảnh thì lân cận của nó có thể nằm ngoài ảnh. Các lân cận chéo của p có tọa độ: (x+1,y+1), (x+1,y-1), (x-1,y+1), (x-1,y-1). Tập lân cận chéo được ký hiệu là NP(p).
Tập lân cận chéo cùng với lân cận 4 tạo thành lân cận 8 của p, ký hiệu là: N8(p) như sau: (x-1, y-1) (x, y-1) (x+1, y-1) (x-1, y) (x, y) (x+1, y) Các mối liên kết điểm ảnh: Theo [4], để xác điṇh tính liên thông của hai điểm ảnh, chúng cần thỏa mãn rằng: chúng phải là các lân cận và các cấp xám phải thỏa mãn tiêu chuẩn đề ra về tính tương tư. Ví dụ: Trong ảnh nhi ̣phân với các giá tri ̣là 0 và 1, hai điểm ảnh có thể là 4 lân câṇ, nhưng chúng chỉ đươc ̣ goị là liên thông nếu và chỉ nếu chúng có các giá trị bằng nhau. Các mối liên kết được sử dụng để xác định giới hạn của đối tượng vật thể hoặc xác định vùng trong một ảnh. Một liên kết được đặc trưng bởi tính liền kề giữa các điểm và mức xám của chúng.
Cho V là môṭ tâp ̣ các giá tri ̣cấp xám dùng để xác định tính liền kề trong ảnh, ta có ba loại liền kề sau: + Liên kết 4: hai điểm ảnh p và q với giá tri ̣từ V là liên kết 4 nếu q thuôc ̣ tâp̣ N4(p) + Liên kết 8: hai điểm ảnh p và q với giá tri ̣từ V là liên kết 8 nếu q thuôc ̣ tâp̣ N8(p) 5 + Liên kết m (liên kết hỗn hơp):̣ hai điểm p và q vớ i giá tri ̣từ V là liên kết m nếu thỏa mãn môṭ trong hai điều kiêṇ sau: - Một là: q thuộc N4(p) - Hai là: q thuộc NP(p) 1. Biên ảnh (Image boundary) Biên ảnh là một vấn đề chủ yếu trong phân tích ảnh, vì các kỹ thuật phân đoạn ảnh chủ yếu dựa vào biên. Theo [3], một điểm ảnh có thể coi là điểm biên nếu ở đó có sự thay đổi mạnh một cách đột ngột về mức xám. Tập hợp các điểm biên tạo thành biên hay đường bao ảnh của ảnh (Boundary).
Hay nói cách khác, đường biên ảnh là nơi mà các điểm ảnh lân cận nhau có cường độ thay đổi mạnh một cách đột ngột. Ví dụ: Trong một ảnh nhị phân, một điểm có thể gọi là biên nếu đó là điểm đen và có ít nhất một điểm trắng là lân cận. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XỬ LÝ VÀ NHẬN DẠNG ẢNH Cũng như xử lý dữ liệu bằng đồ hoạ, xử lý ảnh là một lĩnh vực của tin học ứng dụng. Xử lý dữ liệu bằng đồ họa đề cập đến những ảnh nhân tạo, các ảnh này được xem xét như là một cấu trúc dữ liệu và được tạo ra bởi các chương trình.
Xử lý ảnh bao gồm các phương pháp và kỹ thuật để biến đổi, để truyền tải hoặc mã hóa các ảnh tự nhiên. Mục đích của xử lý ảnh gồm: - Thứ nhất: Biến đổi ảnh và làm đẹp ảnh. - Thứ hai: Tự động nhận dạng hay đoán nhận ảnh và đánh giá các nội dung của ảnh. Thực hiện xử lý ảnh thường theo nguyên tắc: xử lý thông qua việc sử dụng hàm biến đổi ảnh.
Biến đổi ảnh là quá trình thực hiện thông qua các toán tử.