Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật lý của cây trúc sào phyllostachys edulis tuổi 1 tại huyện chợ mới tỉnh bắc kạn

Nghiên cứu ảnh hưởng vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của trúc sào Phyllostachys edulis tuổi 1 tại Chợ Mới, Bắc Kạn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa về mặt khoa học

1.3. Ý nghĩa thực tiễn

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.1.1. Nghiên cứu chung về tre trúc ở trên thế giới

2.1.2. Nghiên cứu chung về tre trúc ở Việt Nam

2.2. Tổng quan về đặc điểm hình thái và phân bố của cây Trúc sào

2.2.1. Đặc điểm hình thái cây Trúc sào

2.2.2. Tổng quan khu vực lấy mẫu

2.2.2.1. Địa giới hành chính
2.2.2.2. Vị trí địa lý
2.2.2.3. Tài nguyên thiên nhiên

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Chọn cây lấy mẫu

3.3.2. Quy định cơ bản phương pháp thử nghiệm

3.3.3. Thiết bị thử nghiệm

3.3.4. Phương pháp thử nghiệm vật liệu Trúc sào

3.3.5. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến mật độ của bó mạch của cây Trúc sào tuổi 1

4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến kích thước của bó mạch của Trúc sào tuổi 1

4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến độ ẩm của cây Trúc sào tuổi 1

4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến độ co rút của cây Trúc sào tuổi 1

4.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến chiều dài sợi của Trúc sào tuổi 1

4.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến khối lượng thể tích của cây Trúc sào tuổi 1

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤC LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạotính chất vật lý của trúc sào (Phyllostachys edulis) 1 tuổi tại Chợ Mới, Bắc Kạn. Trúc sào là loài tre có giá trị kinh tế cao, được sử dụng trong sản xuất đồ mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và công nghiệp giấy. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định sự biến đổi về cấu tạotính chất vật lý của trúc sào theo các vị trí khác nhau trên thân cây, từ đó định hướng sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này.

1.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để hiểu rõ hơn về cấu tạotính chất vật lý của trúc sào, đặc biệt là sự biến đổi theo vị trí trên cây. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trong việc tối ưu hóa sử dụng các phần khác nhau của thân cây trúc sào trong các ngành công nghiệp, giúp giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả kinh tế.

II. Tổng quan tài liệu

Phần này trình bày tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến trúc sào và các loài tre trúc khác trên thế giới và tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây đã tập trung vào đặc điểm sinh học, phân bố địa lý, và tính chất vật lý của tre trúc. Đặc biệt, các nghiên cứu về Phyllostachys edulis đã chỉ ra sự biến đổi về tính chất cơ họccấu tạo theo tuổi cây và vị trí trên cây.

2.1. Nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ thế kỷ 19, với các công trình của Munro (1868) và Gamble (1896). Các nghiên cứu gần đây tập trung vào tính chất cơ họccấu tạo của tre, đặc biệt là sự biến đổi theo tuổi cây và vị trí trên cây. Ví dụ, Xiaobo Li (2004) đã nghiên cứu sự biến đổi về tính chất cơ học của Phyllostachys pubescens theo tuổi và vị trí trên cây.

2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tre trúc đã được thực hiện từ những năm 1960, tập trung vào phân loại, kỹ thuật trồng, và chế biến tre trúc. Các nghiên cứu gần đây đã đi sâu vào tính chất vật lýcơ học của tre, đặc biệt là trúc sào, nhằm tối ưu hóa sử dụng trong các ngành công nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thực địa và thí nghiệm trong phòng thí nghiệm để phân tích cấu tạotính chất vật lý của trúc sào. Các mẫu được lấy từ các vị trí khác nhau trên thân cây, bao gồm gốc, thân và ngọn. Các phương pháp phân tích bao gồm đo độ ẩm, độ co rút, chiều dài sợi, và khối lượng thể tích.

3.1. Chọn mẫu và phương pháp thí nghiệm

Các mẫu trúc sào được lấy từ các cây 1 tuổi tại Chợ Mới, Bắc Kạn. Các mẫu được phân tích theo các vị trí khác nhau trên thân cây, sử dụng các thiết bị như kính hiển vi điện tửthước kẹp panme để đo đạc các chỉ số vật lý.

3.2. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp thống kê để xác định sự biến đổi về cấu tạotính chất vật lý của trúc sào theo các vị trí khác nhau trên thân cây.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến đổi rõ rệt về cấu tạotính chất vật lý của trúc sào theo các vị trí khác nhau trên thân cây. Cụ thể, mật độ bó mạch, độ ẩm, và chiều dài sợi có sự khác biệt đáng kể giữa gốc, thân và ngọn cây. Các kết quả này cung cấp cơ sở khoa học để định hướng sử dụng hiệu quả các phần khác nhau của thân cây trúc sào.

4.1. Ảnh hưởng của vị trí trên cây đến mật độ bó mạch

Kết quả cho thấy mật độ bó mạch tăng dần từ gốc lên ngọn, phản ánh sự biến đổi về cấu tạo của trúc sào theo chiều cao cây.

4.2. Ảnh hưởng của vị trí trên cây đến độ ẩm và độ co rút

Độ ẩmđộ co rút của trúc sào cũng biến đổi theo vị trí trên cây, với giá trị cao nhất ở phần gốc và giảm dần lên ngọn.

4.3. Ảnh hưởng của vị trí trên cây đến chiều dài sợi

Chiều dài sợi của trúc sào có xu hướng tăng từ gốc lên ngọn, cho thấy sự khác biệt về cấu tạotính chất vật lý giữa các phần của thân cây.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã xác định được sự biến đổi về cấu tạotính chất vật lý của trúc sào theo các vị trí khác nhau trên thân cây. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng sử dụng hiệu quả các phần khác nhau của thân cây trúc sào trong các ngành công nghiệp. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về tính chất cơ họccấu tạo của trúc sào để tối ưu hóa sử dụng nguồn tài nguyên này.

5.1. Kiến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần mở rộng nghiên cứu về tính chất cơ học của trúc sào ở các độ tuổi khác nhau và trong các điều kiện môi trường khác nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về loài cây này.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật lý của cây trúc sào phyllostachys edulis tuổi 1 tại huyện chợ mới tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ hòa thảo (Poaceae hoặc còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng và phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc có nguồn gốc từ nước ngoài nhưng đã du nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời ở một số tỉnh thành Việt Nam gần như trở thành cây trồng mới. Trúc sào là một loại tre có nhiều giá trị về kinh tế cao đặt biệt trong sản xuất đồ mỹ nghệ, đóng bàn, ghế, làm chiếu, đan mành, cần câu, gậy trúc hay dùng để làm dụng cụ sáo, gậy trượt tuyết, sào nhảy cao, đó những mặt hàng có giá trị cao đặt biệt trong xuất khẩu.Trúc sào hay mao trúc là loài tre được trồng nhiều nhất ở Trung quốc với diện tích rộng cây Trúc sào đang được trồng rất nhiều ở Việt Nam.

Nhiều nhất ở Cao Bằng (Bảo Lạc, Nguyên Bình ) và Hà Giang người dân bản địa Cao Bằng cũng cho rằng Trúc sào có nguồn gốc từ Trung Quốc, được đồng bào dân tộc Dao lấy giống, sau các tỉnh như Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh cũng đã nhập loài Trúc sào về trồng … thường ở độ cao 800m nơi đồng bào người Dao, H’mông, Nùng ,Tày sinh sống. Ở cao bằng Trúc sào trở thành biểu tượng người dân địa phương. Trúc sào trong chế biến phần thân quan trọng nhất thân to thẳng tròn đều, mắt ít nổi, dễ gia công trong chế biến, thân có màu vàng ngà, sáng bóng rất đẹp. Thân trúc sào còn dùng để làm nguyên liệu giấy, sợi rất tốt.

Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp giấy của Trung Quốc. Gần đây Trúc sào được dùng làm ván ghép và ván thanh để trang trí nội thất, làm ván sàn và đóng đồ đạc thay gỗ, rất có triển vọng. Ngoài giá trị kinh tế Trúc sào còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước, bảo h 2 tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen cây bản địa, Trúc sào còn mang ý nghĩa văn hóa, cộng đồng cao. Vì vậy Trúc sào cần được quy hoạch thành vùng ổn định.

Cũng cần quản lí rừng Trúc sào bằng các biện pháp kĩ thuật tốt để duy trì ổn định và lâu dài. Hiện nay việc sử dụng về Trúc sào còn quá ít, chỉ dựa trên kinh nghiệm của người dân và các cơ sở sản xuất. Việc nghiên cứu, xác định cấu tạo, tính chất vật lí là cơ sở khoa học cơ bản để tìm hiểu về bản chất của Trúc sào là căn cứ cho chế biến, bảo quản và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên này; là những tiêu chí để đánh giá chất lượng rừng, đánh giá tuyển chọn giống. Xuất phát từ vấn đề cấp thiết thực tiễn của đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lí của cây Trúc sào tuổi 1” là hết sức cần thiết góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng từng vị trí của cây Trúc sào vào mục đích mong muốn để đạt hiệu quả cao nhất.

Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được cấu tạo của các vị trí khác nhau trên cây Trúc sào tuổi 1. - Xác định được mối quan hệ giữa vị trí trên thân cây đến tính chất vật lý của cây Trúc sào tuổi 1. Ý nghĩa về mặt khoa học Đề tài là cơ sở khoa học cho việc phân tích sự biến đổi tính chất vật lý ở các vị trí trên Trúc sào và định hướng sử dụng theo vị trí cho loại cây này. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được hướng sử dụng của loại cây Trúc sào tuổi 1 theo vị trí.

- Giúp cho các cơ sở chế có cơ khoa học sử dụng hợp lý giữa các vị trí trên thân cây vào những mục đích khác nhau tránh lãng phí và tận dụng triệt để nguồn tài nguyên tại Trúc sào. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Nghiên cứu chung về tre trúc ở trên thế giới Tre là một tài nguyên rừng, một nhóm lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị.

Tre trên thế giới phân bố trên 3 khu vực: Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi và Châu Mĩ. Tre thuộc phân họ tre (Bambussoideae), hộ Cỏ (Poaeceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Đã thống kê được trên 14 triệu ha rừng tre phân bố từ xích đạo qua vùng nhiệt đới đến vùng hàn và ôn đới, nghĩa là từ 15 độ vĩ Bắc đến 47 độ vĩ Nam đều có tre sinh trưởng.

Nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre. Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi và trên 230 loài. Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Do tre vừa là nguyên liệu lại vừa là vật liệu, nên nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu, thí nghiệm về tính chất vật lý và cơ học của tre.

Các nghiên cứu về tre trúc ở trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc của Munro (1868). Sau đó có nghiên cứu về các tre trúc Ấn Độ (Gamble 1868) trong đó tác giả có mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia, Indinesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất.

Haig và cộng sự (1959) cũng bình luận rằng sự phân bố tự nhiên của tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị rất tốt các điều kiện đất đai ở đó h 4 Năm 1996 Zhang- min, Kawasaki- T, Giang- Ping Trường Đại học Kyoto, Viện nghiên cứu gỗ Nhật Bản đã thành công với đề tài: “ Nghiên cứu nghệ sản xuất các tính chất ván tổng hợp tre gỗ” Có lẽ tác phẩm đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của tác giả Munro được xuất bản vào năm 1868 với tựa đề: “Nghiên cứu về Bambusaceae”. Sau đó là đến tác phẩm của tác giả Gamble viết về “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” được xuất bản vào năm1896. Trong tác phẩm này, tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số loài tre trúc phân bố ở Pakistan, Srilanca,Myanma, Malaysia và Inđônesia. Theo ý kiến của Gamble (1896) thì các loài tre trúc là loài thực vật chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất.

Ví dụ: loài Bambusapolymorphe phân bố trong tự nhiên đã chỉ thị cho đặc điểm đất đủ ẩm gần như quanh năm và có hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng tương đối cao: “Đất có độ phì tự nhiên cao hay đất tốt”; do đó, nó phân bố trong kiểu rừng tự nhiên thường xanh, ẩm. Nhưng trái lại, loài Dendrocalamus strictus phân bố trong tự nhiên lại chỉ thị cho điều kiện đất đai khô hạn, thuộc kiểu rừng tự nhiên thưa, rụng lá.Trong tác phẩm “Bàn về công tác tái sinh tự nhiên và quy hoạch rừng tre trúc” của tác giả S. Seth (người Ấn Độ) xuất bản cách đây gần 20 thập kỷ đã có nhận xét: “Mỗi loài tre trúc khác nhau đều có tính quần cư rõ rệt và có khu vực sinh trưởng rất rõ ràng, bởi vậy chúng có thể chỉ thị rất tốt cho các kiểu rừng trong tự nhiên và các kiểu rừng này đều có liên quan chặt chẽ đến các đặc điểm, tính chất và độ phì của đất”. Theo một số tác giả trong đó có Y.

S Ahmad nghiên cứu tre trúc phân bố tự nhiên ở Pakistan nhận thấy các loài tre thân mọc cụm thường thích nghi trên đất feralit có thành phần cơ giới nặng, với hạt sét chiếm ưu thế và đất phải thoát nước tốt. Còn ở một số nước Mỹ La tinh, người dân lâu nay đã có h 5 kinh nghiệm dựa vào sự phân bố của loài tre Guadua để chọn nơi đất có điều kiện trồng chuối tốt.Trong tác phẩm “Rừng tre trúc” tập 1 do FAO xuất bản năm 1959, các tác giả I. A Huberman và U Aung Din đã đưa ra nhận xét: Sự phân bố tự nhiên của các loài tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị tương đối tốt các điều kiện đất đai ở nơi đó. Ví dụ, loài Bambusa polymorphe chỉ thị cho điều kiện đất tốt, đủ ẩm quanh năm và thoát nước tốt, loài Bambusa arundinaria cũng chỉ thị cho điều kiện đất tốt, đủ ẩm và giàu các chất khoáng dinh dưỡng, thuộc loại đất phù sa thung lũng.

Ngược lại, loài Dendrocalamus strictus lại chỉ thị cho điều kiện đất khô.Còn ở Trung Quốc, nơi có diện tích rừng tre trúc phân bố rộng đứng thứ 2 trên thế giới chỉ xếp sau Ấn Độ, với số lượng loài tre trúc phong phú nhất trên thế giới: 500 loài thuộc 50 chi, đã được trình bày một phần quan trọng trong tác phẩm “Trúc loại kinh doanh” của tác giả Ôn Thái Huy (Trung Quốc) xuất bản năm 1959, trong tác phẩm này tác giả đã đề cập tới các loài tre trúc quan trọng của Trung Quốc và các phương thức kinh doanh chúng. Ở Trung Quốc một số loài tre trúc như loài Mao Trúc, chiếm tới 75% sản phẩm xuất khẩu măng tre của Trung Quốc sang Nhật Bản, đã đuợc nghiên cứu sâu về quá trình sinh trưởng, dinh dưỡng sinh sản thân ngầm và thân khí sinh, bằng phuơng pháphiện đại, đồng vị phóng xạ v. Các kỹ thuật gây trồng rừng mao trúc cao sản của tác giả Lý Đại Nhật, Lâm Cường; được Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) xuất bản tháng 5 năm 2000 có thể giúp chúng ta rút ra các biện pháp kỹ thuật thâm canh cho rừng trúc sào của Việt Nam được trồng nhiều ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn.[4] Xiaobo Li (2004) đã nghiên cứu sự biến đổi về tính chất cơ học của tre (Phyllostachys pubescens) thay đổi theo tuổi (1, 3,5) về chiều cao cũng như lớp ngang. Tính chất như dộ bền uốn tĩnh (MOR), modun đàn hồi (MOE) và nén đều tăng từ tuổi 1 đến tuổi 5.

Theo chiều cao, tính chất cơ học có biến đổi h 6 giữa phần gốc, thân và ngọn nhưng mỗi cấp tuổi lại có quy luật khác nhau. Theo chiều ngang, tính chất ở ngoài (sát với cật) cao hơn ở phần bên trong (sát với ruột) (Xiaobo Li, 2004).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của trúc sào Phyllostachys edulis 1 tuổi tại Chợ Mới, Bắc Kạn là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích cách vị trí trên cây ảnh hưởng đến cấu trúc và đặc tính vật lý của trúc sào Phyllostachys edulis. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về sự biến đổi của loài trúc này theo vị trí mà còn đưa ra những hiểu biết quan trọng giúp định hướng sử dụng hiệu quả trong thực tiễn. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực thực vật học và ứng dụng vật liệu tự nhiên.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến thực vật và đặc tính của chúng, bạn có thể tham khảo thêm Luận án ảnh hưởng của tuổi cây vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất của luồng dendrocalamus barbatus, nghiên cứu này cũng tập trung vào sự thay đổi cấu trúc và tính chất của cây theo tuổi và vị trí. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu thành phần hóa học hoạt tính sinh học của loài thông nàng và pơ mu cung cấp thêm góc nhìn về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thực vật khác. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài nàng nàng và tử châu lá to là một tài liệu tham khảo tuyệt vời để hiểu sâu hơn về các đặc tính sinh học của thực vật.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá thêm những nghiên cứu chuyên sâu, giúp mở rộng hiểu biết về thế giới thực vật và ứng dụng của chúng.