Đặt vấn đề Rừng là một tài nguyên quý giá đối với con người, nếu chúng ta biết khai thác, sử dụng và bảo vệ một cách hợp lý. Rừng không chỉ cung cấp cho ta gỗ, củi, tre, nứa, dược liệu… mà rừng còn là lá phổi xanh của trái đất, điều hòa khí hậu, hấp thụ các chất độc hại như CO2,SO2, cân bằng môi trường sinh thái đem lại môi trường sống trong lành cho con người cũng như mọi sinh vật trên trái đất. Sa mộc dầu là loài cây lá kim, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở các vùng núi cao thuộc các tỉnh phía bắc nước ta. Đây là loài cây gỗ lớn, thớ gỗ đẹp, đặc biệt cây có chứa nhiều tinh dầu nên rất bền, cây thường mọc ở các vùng núi đá có độ cao từ 1000 - 1500m, thường hỗn giao với Pơ mu, Rẻ, Giổi, Chẹo, Táu mật, Kim giao, Chò chỉ, Sến mật.
Sa mộc dầu là cây ưu sáng, trong rừng thường vượt lên tầng cao nhất (tầng nhô) của tán rừng, thân thẳng không có bạnh vè, phân cành lá cao, lá tập chung ở đỉnh thành hình tháp rất đẹp mắt. Nghiên cứu của Hoàng Văn Sâm (2011) [6]. Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về giá trị sử dụng, giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa về sinh thái cũng như giá trị về văn hóa cảnh quan. Hiện nay số lượng cá thể cũng như vùng phân bố tự nhiên của cây bị thu hẹp do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do khai thác vì mục đích thương mại, xây dựng và làm đồ thủ công mỹ nghệ.
Để bảo tồn loài cây quý hiếm này cần có những nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm. Vì Sa mộc dầu là loài cây tái sinh yếu, sức sống của cây con và cây mầm kém không đáp ứng được nguồn giống phục vụ trong công tác trồng rừng. Trong những năm gần đây các trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong cả nước đã tiến hành chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều c 2 loài cây rừng bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì các tính trạng tốt của cây rừng. Một trong những phương pháp nhân giống duy trì được nguyên vẹn các tính trạng tốt từ thế hệ trước cho thế hệ sau là phương pháp nhân giống bằng hom.
Trong sản xuất cây con nhất là sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trong đó có ảnh hưởng của vị trí lấy hom. Xuất pát từ thực tế nói trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí lấy hom và chất kích thích ra rễ đến sự hình thành hom cây Sa mộc dầu tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhằm giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian nhân giống, tạo ra cây con có chất lượng, cung cấp giống cho công tác trồng rừng. Mục tiêu nghiên cứu Lựa chọn vị trí lấy hom giâm cho tỷ lệ ra rễ, ra chồi tốt nhất trong nhân giống Sa mộc dầu bằng phương pháp giâm hom để tạo ra được cây hom khỏe, sinh trưởng và phát triển tốt.
Ý nghĩa nghiên cứu Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng kỹ thuật sản xuất giống cây sa mộc dầu. Giúp cho sinh viên làm việc với thực tế sản xuất, biết áp dụng và kết hợp giữa lý thuyết với thực hành. Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Kết quả nghiên cứu vận dụng vào thực tế sản xuất cây sa mọc dầu.
c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm loài cây nghiên cứu 2. Đặc điểm hình thái Sa mộc dầu tên gọi khác là Sa mu dầu, Ngọc am, Sa mộc quế phong, thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceage) tên khoa học của cây là (Cunninghamia konishii) theo nghiên cứu của Nguyên Hữu Tiến (2014) [12]. Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của cây Sa mộc dầu tại vườn quốc gia pù mát tỉnh Nghệ an.
Cây xa mộc là loài cây gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao, gỗ bền đẹp dùng trong xây dựng và đóng đồ gia dụng. Sa mộc ưa ánh sáng, mọc nhanh so với một số loài cây lá kim khác, sinh trưởng tốt ở cá huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, Lào Cai. phù hợp nơi tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, thoát nước. Cơ sở khoa học của nhân giống bằng hom Giâm hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom.
Cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ. Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này như cành, thân lá… Rễ bất định có thể hình thành ngay trên cây nguyên vẹn (cây đa, cây si …) Có 2 loại rễ bất định là rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. Rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thân, đoạn cành tách khỏi thân cây.
Rễ mới sinh là loại rễ chỉ hình thành khi được cắt hom, nó là hậu quả của phản ứng với vết cắt. Cơ sở của sự hình thành chồi và rễ bất định Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom, về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm là: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh. Các nhân tố nội sinh Đặc điểm di truyền: Tuỳ theo đặc điểm di truyền, các loài cây khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau. Dựa theo khả năng ra rễ người ta chia cây rừng ra 3 nhóm: nhóm dễ ra rễ, nhóm khó ra rễ, nhóm có khả năng ra rễ trung bình.
Các loài cây dễ ra rễ, là những loài cây chỉ cần kỹ thuật thông thường hom cũng ra rễ và có tỷ lệ sống cao như: Tre, Trúc, Liễu, Vông, Dâu da xoan. Các loài cây tương đối khó ra rễ, là những loài cây đòi hỏi kỹ thuật cao, có biện pháp quản lý chu đáo mới có thể đạt được kết quả tốt như: Phi lao, Bạch đàn Su mu. Các loài khó ra rễ, là những loài cây đòi hỏi phải xử lý bằng các chất điều tiết sinh trưởng mạnh, chăm sóc rất tỷ m ỉ chu đáo mới có thể ra rễ như: Thông, Keo, Long não. Dựa vào khả năng nhân giống sinh dưỡng bằng hom thì chia ra thành 2 nhóm: Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom, nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt.
Tuổi cây mẹ: Ở những cây mẹ còn trẻ, sức sống mạnh mẽ, có năng lực phân sinh mạnh nên hom ra rễ dễ dàng hơn. Cây càng già khả năng ra rễ của hom càng yếu. Vì vậy những cây mẹ dùng để lấy hom cần ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển mạnh. Tuổi cành lấy hom: Cũng ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom.
Tuổi cành lấy hom cũng tuỳ thuộc vào loài cây khác nhau mà khác nhau. Cành càng già càng khó ra rễ. c 5 Vị trí lấy hom: Cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau. Ví dụ: Cây pơ mu lấy hom ở vị trí cành bánh tẻ ở tuổi 3 - 4 là tốt nhất cho tỷ lệ là 90% Nghiên cứu Thân Văn Cảnh , Phan Văn Thắng (2009) Kỹ thuật trong Pơ mu tại Sapa - Lào Cai.
[9] Sự tồn tại của lá trên hom: Nhìn chung các hom phải có lá mới có khả năng ra rễ. Diện tích lá trên hom tuỳ theo đặc điểm của mỗi loài. Thời vụ giâm hom: Tỷ lệ ra rễ phụ thuộc vào trạng thái sinh lý trong thời kỳ lấy hom và điều kiện thời tiết (nhiệt độ, ẩm độ). Vì vậy mỗi loài thích hợp với thời vụ dâm hom khác nhau.
Không thể xác đinh lịch nhân giống chung cho các loài. Vì tỷ lệ ra rễ phụ thuộc vào thời kỳ dinh dưỡng, nhịp độ sinh trường và phát triển chồi không giống nhau. Kích thước hom: Đường kính và chiều dài hom khác nhau cũng ảnh hưởng đến ra rễ của hom. Hom có đường kính lớn tốt hơn hom có đường kính nhỏ.
Tuổi cành và tuổi cây mẹ: Có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom thường thì cành nửa hóa gỗ có khả năng ra rễ cao hơn cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn Tuổi cây mẹ lấy hom từ cây tuổi còn non dễ ra rễ hơn cây tuổi già Nghiên cứu Nguyễn Văn Thịnh (2015) Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến kha năng ra rễ của cây phay Duabanga grandiflora (Roxb. Các nhân tố ngoại sinh Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành (dinh dưỡng, điều kiện chiếu sáng, độ ẩm đất, không khí) Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non. Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm. c 6 Thời vụ giâm hom Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm.
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông. Vì vậy thời gian giâm hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu. Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể nhân hom: Nhiệt độ là một trong nhưng nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm (Pravdin, 1938).
Ở nhiệt độ quá thấp hom giâm nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường nhiệt độ và bị hỏng, từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ.