Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyên và lợi nhuận của công ty. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu 'Về khía cạnh lịch sử thì quản trị vốn luân chuyển còn là nhiệm vụ tiền thân của quản trị tài chính, đã có rất nhiều những nghiên cứu về những yếu tố về vốn luân chuyển, những nghiên cứu về vốn luân chuyền trước đây chủ yếu về cải thiện khả năng thanh toán và số dư tiền mặt tối ưu. Như nghiên cứu tiên phong, của Baumol (1952) về mô hình quản lý hàng tồn kho và Miller (1966), về mô hình quản lý tiền mặt có thể được coi là nghiên cứu đầu tiên và được biết đến nhiều nhất trong lĩnh vực này. Những nghiên cứu này cung cấp cho nhà quản trị các vấn đề liên quan đến thực hành quản trị vốn luân chuyền. Và tiếp nối từ các nghiên cứu trước những nghiên cứu gần đây phân tích tác động ảnh hưởng của mối quan hệ giữa khả năng thanh toán, quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty đó, được thực hiện ở nhiều quốc gia và bằng nhiều phương, pháp thống kê nên có rất nhiều quan điểm về mối quan hệ này.
[9] Shin và Soenen (1998) đã lựa chọn các doanh nghiệp tại Mỹ trong giai đoạn 1975-1944 thực hiện mối quan hệ giữa quả trị vốn luân chuyển và khả năng tạo ra giá trị cho cổ đông. Tác giả làm thực nghiệm nghiên cứu có hay không mối quan hệ giữa hai biến được chọn là giữa kỳ luân chuyển tiền mặt và khả năng sinh lời của công ty. Chu kỳ luân chuyển tiền phản ánh khoảng thời gian giữa chỉ tiền và thu lại tiền mặt ,được đo lường bằng cách ước lượng, thời gian chuyển đổi hàng tồn kho và khoảng chênh lệch chuyển đổi các khoản phải thu trừ đi thời gian chuyền đổi các khoản phải trả. Hai tác giả này đã sử dụng phân tích tương quan và hồi qui để đưa ra được kết luận tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận công ty và kỳ luân chuyển tiền mặt.
Cùng quan điểm về dấu đối với cặp quan hệ này, bài viết của tác giả Moss và Stine (2006) lựa chọn nghiên cứu 1717 doanh nghiệp ngành bán lẻ tại Mỹ trong giai đoạn 1971 — 1990 thông qua phân tích hồi qui đa biến. [33] Lazaridis và Tryfonidis (2006) điều tra mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyên và khả năng sinh lời doanh nghiệp của các công ty niêm yết tại Sở giao. dịch và chứng khoán Athens. Kết quả từ phân tích hồi quy chỉ ra rằng có một ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời - đánh giá thông qua lợi nhuận gộp, và chu kì chuyên hóa thành tiền mặt.
Từ những kết quả đó, họ chỉ ra rằng các nhà quản trị có thể tạo giá trị cho cổ đông bằng cách xử lý một cách chính xác chu kì chuyên hóa thành tiền mặt và giữ các thành phần khác nhau trong chu kỳ luôn ở mức độ tối ưu. [23] Deloof (2003), nghiên cứu các mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời doanh nghiệp cho một mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính lớn của Bi trong giai đoạn 1992 — 1996. Tác giả sử dụng chỉ tiêu thu nhập gộp từ hoạt động kinh doanh để đo lường khả năng sinh lợi và chu kì chuyên hóa tiền mặt. Tác giả sử dụng phân tích tương quan và hồi quy trong bài nghiên cứu này, ông tìm thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi và chu kỳ luân chuyển tiền mặt và các thành phan của nó kỳ thu tiền, kỳ thanh toán bình quân và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho.
Từ kết quả phân tích ông đề xuất rằng các nhà quản trị có thê tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách giảm kì thu tiền và thời gian luân chuyển hàng tồn kho. Hoặc có thể trì hoãn việc thanh toán các hóa đơn của công ty. Ngoài ra nghiên cứu này còn cho thấy các công ty lớn thường tập trung quản lý về tiền nhiều hơn.[9] Tác giả Eljelly (2004) đã nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa mối quan hệ khả năng sinh lợi và tính thanh khoản bằng tỷ số khả năng thanh toán hiện hành và chu kỳ chuyên đổi tiền mặt của các công ty cô phần ở Ả rập — Saudi. Sử dụng phân tích tương quan và hồi quy kết luận mối quan hệ nghịch chiều giữa lợi nhuận và mức độ thanh khoản của nó.
Tuy nhiên, ở cấp độ ngành công nghiệp ông thấy rằng chỉ tiêu chu kỳ luân chuyền tiền mặt là thước đo chính xác hơn so với khả năng thanh toán hiện hành về sự tác động của tính thanh khoản lên khả năng sinh lợi. Biến quy mô công ty cũng có ảnh hưởng đáng kề đến lợi nhuận ở mức độ ngành công nghiệp. [ 1] Padachi (2006) tiến hành nghiên cứu tương tự như Deloof dựa trên các công ty tại Mauritian, trong khoảng thời gian từ năm 1998 ~ 2003 và tìm ra rằng số ngày của khoản phải thu và lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều, bởi nó bao gồm cả chỉ phí phần chiết khấu cho khách hàng thanh toán sớm. Khi doanh thu giảm, doanh nghiệp áp dụng chính sách gia hạn thêm thời hạn thanh toán để có thể tồn tại.
Sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản để đo lường đánh giá lợi nhuận, tác giả kết luận rằng số vòng quay khoản phải thu có ảnh hưởng đến lợi nhuận nghĩa rằng cứ thêm một ngày vòng quay khoản phải thu thì làm giảm chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản. Và thêm nữa Padachi không tìm ra mối quan hệ giữa hàng tồn kho và lợi nhuận. [23] Afza và Nazir (2009) đã nghiên cứu về các chính sách quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời cho mẫu 204 công ty phi tài chính ở Nigeria trong giai đoạn 1996 — 2005. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu kinh tế lượng trong một hồi qui gộp, trong đó các quan sát chuỗi thời gian và nghiên cứu cắt ngang được sử dụng kết hợp nhưng không có sự thay đổi đáng kể trong hiệu quả quản lí vốn luân chuyển giữa các công ty lớn và công ty nhỏ.Tác giả đề nghị rằng các nhà quản trị có thể tạo ra giá trị nếu họ thông qua hướng tiếp cận đến đầu tư về vốn và các chính sách tài chính về vốn.
[13] Gill, Biger và Mathur (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu vốn luân chuyển với khả năng sinh lời đại diện bằng chỉ tiêu thu nhập hoạt động lam biến phụ thuộc, trên phạm vi 88 công ty ở New York trong khoảng thời gian từ 2005 — 2007, nhận định rằng tổn tại mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và số ngày phải thu, số vòng quay tiền mặt và lợi nhuận là cùng chiều, do đó công, ty cần chú trọng các chính sách thu hồi các khoản nợ đúng hạn và đúng đối tượng khách hàng.974 công ty phi tài chính niêm yết trên I1 thị trường chứng khoán châu Âu, kết quả phân tích GLS và OLS cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa vòng quay tiền mặt và lợi nhuận các thể gia tăng khả năng sinh lợi bằng cách giảm khoản thời gian vốn luân chuyên mà công ty đang nắm giữ. [19] Arbidance va Ignatjeva (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của vốn luân chuyển đến lợi nhuận của 182 doanh nghiệp ở Latvian từ 2004 - 2010, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ rất mật thiết giữa các chỉ tiêu của vốn luân chuyển và lợi nhuận. Tương tự cho những nghiên cứu của Ahmadi (2012) khám phá mối quan hệ trên dựa vào khảo sát của các công ty ngành thực phẩm trên thị trường chứng khoán tại Tehran.[6] Enqvist et at (2012) đã sử dụng mẫu dữ liệu gồm 1136 doanh nghiệp Phần Lan, niêm yết trên thị trường chứng khoán Nasdag OMX từ năm 1990 — 2008, với mẫu nghiên cứu số lớn như vậy, họ kết luận rằng quản trị vốn luân chuyền hiệu quả có vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp do vậy nên được đưa vào kế hoạch tài chính của doanh nghiệp [16] Riêng ở Việt Nam, tác giả Huynh Phuong Dong & Jyh — tay Su (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kì luân chuyển tiền và khả năng sinh lời, được đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp trên một mẫu nghiên cứu 130 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2008. Nhóm tác giả đã tìm ra mối quan hệ mạnh giữa khả năng sinh lợi và chu kì luân chuyên tiền và đưa ra kết luận ban quản trị có thể gia tăng giá trị tài sản cho cổ đông bằng cách xác định kì luân chuyển tiền phù hợp và duy trì từng thành phần này ở mức tối ưu.
[12] Và tác giả Tran Viet Hoang ( 2015) dựa trên 98 công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh trong 6 năm 2009 — 2014 bằng kết quả phân tích tương quan Pearson và hồi quy FEM khẳng định mối quan hệ giữa các yếu tố, và chỉ ra rằng có thể gia tăng lợi nhuận tối ưu bằng cách giảm số vòng quay tiền mặt và thương mại ròng. [22] Tất cả nghiên cứu trên cho ta một sơ sở lí thuyết về quản trị vốn luân chuyên và các thành phần của nó. Những tác giả cùng phát hiện ra mối quan hệ ngược chiều giữa số vòng quay nợ phải trả và lợi nhuận dựa trên tiến hành nhiều. quốc gia và môi trường khác nhau.
Mối quan hệ ngược chiều giữa kì tồn kho và lợi nhuận thể hiện rằng công ty có lợi nhuận cao thì quá trình chuyên đổi hang tồn kho thành thành phẩm trong giai đoạn ngắn. Trên cơ sở những nghiên cứu trước đây, bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyên và khả năng sinh lời của các công ty cỗ phần thuộc nhóm ngành vận tải được niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam nhằm xác định tồn tại mối quan hệ giữa các chỉ tiêu vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công, ty này hay không. Và xác định mức độ tương quan giữa khả năng sinh lời với ảnh hưởng của các nhân tố quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp trong ngành này 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MOI QUAN HE GIA CÁC CHỈ TIÊU QUAN TRI VON LUAN CHUYEN VA TY SUAT LOI NHUAN 1. TONG QUAN VE QUAN TRI VON LUAN CHUYEN 1.