Đặt vấn đề Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) là một trong những loại rau quả có thành phần dinh dưỡng cao và là loại thực phẩm thường xuyên xuất hiện trong những bữa ăn hàng ngày của con người. Dưa chuột cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất. Thành phần dinh dưỡng tính cho 100g trái tươi gồm: 14 calo năng lượng; 0,7 mg protein; 24 mg calcium; vitamin A 20 IU; vitamin C 12 mg; vitamin B1 0,024 mg; vitamin B2 0,075 mg và niacin 0,3 mg (Trần Thị Ba, 2017). Ngoài giá trị dinh dưỡng thì dưa chuột còn là rau ăn quả thương mại quan trọng trên thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao cho người sản xuất.
Bên cạnh đó, người dân thường chỉ dùng phân hoá học để bón cho dưa chuột trong quá trình canh tác, điều này sẽ làm cho đất trồng dưa chuột ngày càng bị thoái hoá dần, độ phì nhiêu giảm, đất bị mất cân bằng dinh dưỡng, hệ vi sinh vật trong đất thấp,… dẫn đến năng suất dưa chuột sẽ giảm (Trần Văn Lài, 1991) và tăng gây ô nhiễm môi trường (Savci, 2012). Bón phân hữu cơ cho cây trồng giúp cho độ phì của đất được cải thiện như tăng hàm lượng chất hữu cơ, tăng lân hữu dụng, tăng khả năng cung cấp đạm cho cây trồng (Võ Thị Gương và ctv. Bên cạnh đó, việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng từ phân hữu cơ so với phân vô cơ là diễn ra từ từ nên cây trồng sẽ sử dụng hiệu quả nguồn dinh dưỡng này (Bi and Evans, 2010). Nhằm hướng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, hạn chế sử dụng hoá chất trong canh tác dưa chuột, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra mức độ phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ bón cho dưa chuột để từng bước giảm lượng phân hóa học bón trong sản xuất dưa chuột.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay thế phân vô cơ bằng phân hữu cơ đến sinh 1 trưởng và năng suất cây dưa chuột vụ Xuân Hè”. Mục đích: Đánh giá được ảnh hưởng của của sự thay thế phân vô cơ bằng phân hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất cây Dưa Chuột Xuân Yến vụ Xuân Hè năm 2021 tại Hà Nội. Xác định được công thức bón phân thích hợp nhất đối với cây dưa chuột.3 Yêu cầu: - Đánh giá ảnh hưởng của lượng phân vô cơ và phân hữu cơ thay thế 50% phân vô cơ đến năng suất của cây dưa chuột. - Đánh giá ảnh hưởng của lượng phân vô cơ và phân hữu cơ thay thế 50% phân vô cơ đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây dưa chuột.
- Đánh giá ảnh hưởng của lượng phân vô cơ và phân hữu cơ thay thế 50% phân vô cơ đến sâu bệnh hại của cây dưa chuột. - Đánh giá ảnh hưởng của lượng phân vô cơ và phân hữu cơ thay thế 50% phân vô cơ đến chất lượng của dưa chuột. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Tổng quan về cây dưa chuột 2. Nguồn gốc Cây dưa chuột (Cucumis Sativus.L) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi, Châu Mĩ, Nam Châu Á (Ấn Độ, Malaca, Nam Trung Quốc).
Tuy nhiên, hầu hết dưa chuột có mặt ở Châu Phi. Nhiều tài liệu cho rằng dưa chuột có nguồn gốc ở chân dãy núi Hymalaya. Dưa chuột được trồng ở Ấn Độ cách đây 3000 năm và nó được biết đến ở Ai Cập cổ đại, Hi Lạp và Đế Chế La Mã, vào thế kỷ thứ 6 dưa chuột đã được trồng ở Trung Quốc, Malaisia. Dưa chuột là loài cây ưa nhiệt độ ấm áp và những vùng nhiệt đới mát mẻ, nhiệt độ thích hợp để trồng dưa chuột là 18 - 30 oC (Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, 2002).
Ở nước ta cây dưa chuột đã được trồng từ rất lâu, có thể trồng được ở nhiều vùng trên cả nước nhưng chủ yếu được trồng nhiều ở vùng đồng bằng và vùng núi phía Bắc. Phân loại a) Phân loại theo thời gian sinh trưởng Dựa vào đặc điểm chín sớm (tức là tính từ lúc mọc đến khi thu quả đầu tiên) của cây mà dưa chuột ở nước ta chia làm 3 nhóm: + Nhóm các giống chín sớm có thời gian từ mọc đến thu quả là 30 - 35 ngày vụ đông và từ 35 - 40 ngày vụ xuân. Các giống dưa chuột Việt Nam ở vùng sinh thái đồng bằng đều thuộc nhóm này. + Nhóm chín trung bình có thời gian từ mọc đến thu quả đầu từ 35 - 40 ngày trong vụ đông và từ 40 - 45 ngày ở vụ xuân.
+ Nhóm chín muộn có thời gian từ mọc đến thu quả đầu từ 40 - 45 ngày trở lên. Các giống dưa chuột Việt Nam ở miền núi thuộc nhóm này (Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, 2002). 3 b) Phân loại theo mục đích sử dụng Theo mục đích sử dụng các giống dưa chuột và dựa vào chiều dài, khối lượng quả cũng có thẻ chia làm 4 nhóm dưa chuột như sau: + Nhóm quả rất nhỏ (dưa bao tử): Nhóm này cho thu quả để chế biến từ 2 - 3 ngày tuổi, khối lượng quả chỉ đạt từ 150 - 200 g/quả. Phần lớn các giống thuộc nhóm này là dạng cây 100% hoa cái như giống Marinda, F1 Dujna, F1 Levina (Hà Lan) và một số giống của Mỹ.
Hạn chế của nhóm này là cây nhiễm bệnh sương mai từ trung bình đến nặng và quả rất dễ bị sâu bệnhhại. + Nhóm quả nhỏ có chiều dài dưới 1cm, đường kính từ 2,5 - 3,5 cm, nhóm này có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 65 - 80 ngày tuỳ vụ), năng suất đạt từ 15 - 20 tấn/ha. Ngoài dùng làm ăn tươi quả còn dùng làm nguyên liệu đóng hộp nguyên quả để xuất khẩu. Đại diện nhóm này là giống dưa Tam Dương (Vĩnh Phúc) và Phú Thịnh (Hải Dương).
+ Nhóm quả trung bình gồm hầu hết giống dưa địa phương trong nước và giống H1 (giống lai tạo) quả có kích thước từ 13 - 20 cm, đường kính từ 3,5 - 4,5 cm. Thời gian sinh trưởng từ 75 - 85 ngày, năng suất đạt từ 22 - 25 tấn/ha. Một số giống thuộc nhóm này như H1, Yên Mĩ, Nam Hà. Quả dùng ăn tươi hoặc chẻ tư đóng lọ.
+ Nhóm quả to gồm các giống lai F1 của Đài Loan và Nhật Bản. Quả có kích thước trung bình từ 25 - 30 cm, đường kính từ 4,5 - 5 cm. Những giống thuộc giống này có năng suất khá cao, trung bình đạt từ 30 - 35 tấn/ha nếu thâm canh tốt năng suất có thể đạt 50 tấn/ha (Mai Phương Anh, 1996). Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng cho cây dưa chuột Dưa chuột là loài cây ưa nhiệt độ ấm áp và những vùng nhiệt đới mát mẻ, điều kiện sinh thái để cây dưa chuột sinh trưởng, phát triển (Tạ Thu Cúc và cs, 2002).
* Nhiệt độ Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ từ 12- 4 13oC, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển là từ 25 - 30 oC. Nhiệt độ cao hơn sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng của cây và nếu nhiệt độ từ 35- 45 oC kéo dài thì cây sẽ chết. Tổng tích ôn từ lúc mọc đến lúc ra hoa là 900 oC, đến khi kết thúc thu quả là 1650 oC (Tạ Thu Cúc và cs, 2002). * Ánh sáng Dưa chuột ưa ánh sáng ngày ngắn, thời gian chiếu sáng từ 10 - 12 h/ngày là thích hợp nhất cho cây sinh trưởng, phát triển.
Nắng nhiều có tác dụng tốt đến hiệu suất quang hợp làm tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn thời gian lớn của quả. Cường độ ánh sáng thích hợp cho cây dưa chuột sinh trưởng trong phạm vi từ 15. * Nước và độ ẩm Yêu cầu về độ ẩm và nước đối với dưa chuột rất lớn, đứng đầu các cây trong họ bầu bí. Độ ẩm thích hợp cho cây dưa chuột là từ 85 - 95 %, cây dưa chuột chịu hạn rất kém thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích luỹ Cucurbitaxina là chất gây đắng trong quả.
Thời kì cây ra hoa tạo quả yêu cầu nước cao nhất (Lê Thị Khánh, 2002). * Đất trồng Dưa chuột thích hợp nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ pH thích hợp là từ 5,6 - 6,5 (Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, 2002). * Dinh dưỡng Nghiên cứu về hiệu suất sử dụng khoáng, chủ yếu của dưa chuột thấy rằng dưa chuột sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, thứ 2 là đạm rồi đến lân. Khi bón N60:P60:K60 thì dưa chuột sử dụng 92 % đạm, 33 % lân, 100 % kali.
Dưa chuột không chịu được nồng độ phân cao, nhưng lại nhanh chóng phản ứng với các hiện tượng thiếu dinh dưỡng. Vì vậy, phân được bón thúc nhiều lần thay vì bón tập trung. Ở giai đoạn đầu của sự sinh trưởng dưa hấp thụ nhiều đạm hơn các chất khác, đến khi dưa phân nhánh và kết quả dưa mới hấp thụ mạnh kali. Tuy 5 nhiên, bón đạm dư thừa dẫn tới tình trạng cây tăng trưởng mạnh và ra nhiều hoa đực (Mai Phương Anh, 1996).
Tác động của phân bón hữu cơ và vô cơ đến cây trồng và môi trường 2. Tác động của phân bón hữu cơ Phân hữu cơ là những loại phân bón có chứa các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng ở dưới dạng những hợp chất hữu cơ, được dùng trong sản xuất nông nghiệp, có nguồn gốc, được hình thành từ phân, chất thải gia súc, gia cầm, tàn dư thân, lá cây, phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp, than bùn hoặc các chất hữu cơ từ chất thải sinh hoạt, nhà bếp, từ các nhà máy sản xuất thủy, hải sản,…khi bón vào đất phân bón hữu cơ giúp cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu, tơi xốp cho đất bằng việc cung cấp, bổ sung các chất mùn, chất hữu cơ, các loại vi sinh vật cho đất đai và cây trồng. Phân bón hữu cơ có tác động đến cây trồng và môi trường như sau: * Phân bón hữu cơ cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và cân đối Trong các loại phân bón hữu cơ đều chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây trồng. Trong đó, các nguyên tố trung lượng và vi lượng ở dạng dễ hấp thu giúp cây trồng phát triển cân đối.
Trong phân các chất dinh dưỡng sẽ được phân giải từ từ để có thể cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng trong thời gian dài nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng, tránh tình trạng dư thừa đạm.