Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc xác định phân bón cho chè. Phân bón hữu cơ khoáng là sản phẩm phân bón phân hữu cơ và được phối trộn thêm các nguyên tố khoáng vô cơ gồm N,P,K.
Có chứa ít trên 15% thành phần là các chất hữu cơ, từ 8-18% tổng số các chất vô cơ (hóa học, N+P+K). Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên như than bùn, than bùn thải từ các hồ ao, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp. Trong quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây trồng đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì của đất bảo vệ môi trường. Việc thử các loại phân hữu cơ khoáng thay thế phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả.
Sử dụng phân hữu cơ khoáng thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây chè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất. Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000) [20], cây chè là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại phải thu hái nhiều lần trong một năm. Chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển. Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp, cây chè tạm ngừng sinh trưởng song vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè vẫn phải tiến hành thường xuyên trong năm.
e 5 Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000) [20], chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ song cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho năng suất nhất định. Tuy nhiên để có nương chè cho năng suất cao, chất lượng tốt và có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải xây dựng chế độ phân bón hợp lý cho chè. Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất. Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh trưởng sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống.
Đối tượng thu hoạch của chè là búp và lá non. Thường trong búp non của chè có 4,5% N, 1,5% P2O5 và 1,2-1,5 % K2O mà hàng năm chúng ta hái đi từ 5-10 tấn búp tươi/ha và đốn đi một lượng thân lá đáng kể trong đó có N, P, K và các chất khoáng khác, hơn nữa hàng năm một lượng dinh dưỡng nhất định trong đất bị rửa trôi, xói mòn, nếu không bổ sung kịp thời cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp. Đất trồng chè Phú Hộ thuộc nhóm đất xám feralit và môi trường chua, đã được sử dụng để trồng chè qua nhiều năm (trên 20 năm). Đất có độ dốc, xảy ra hiện tượng rửa trôi làm cho hàm lượng chất hữu cơ trong đất càng giảm vì vậy để cho chè sinh trưởng phát triển tốt nâng cao năng suất và chất lượng cần phải bón bổ xung phân hữu cơ khoáng cho chè.
Đó là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn một số tổ hợp phân bón thích hợp cho các dòng chè được tiến hành nghiên cứu để từ đó giúp phần tạo điều kiện cho chè sinh trưởng phát triển tốt nâng cao chất lượng nguyên liệu búp chè phục vụ sản xuất. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây chè Chè là cây công nghiệp dài ngày, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chu kỳ kinh tế có thể 50 - 60 năm phụ thuộc vào đặc điểm giống, điều kiện đất đai, khí hậu và các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc điểm sinh trưởng của bộ rễ chè Lê Đình Giang (1998) [11], bộ rễ thực vật nói chung và cây chè nói riêng là cơ quan dinh dưỡng của cây dưới đất, nó có nhiệm vụ làm giá đỡ cho cây, giữ chặt cây vào đất, hút nước và các chất dinh dưỡng cung cấp cho các hoạt động sống của cây. Trong nhiều trường hợp rễ còn làm chức năng dự trữ, tổng hợp các chất hữu cơ khác nhau cần thiết cho sự sinh trưởng và của cây.
Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000) [20], sự phát triển của bộ rễ và bộ lá có quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ nhau. Theo tài liệu ở Trung Quốc, về mùa đông khi cành lá ngừng sinh trưởng thì bộ rễ phát triển, mùa xuân khi búp chè sinh trưởng mạnh, thì bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ rễ phát triển chậm lại thì lá và búp sẽ sinh trưởng nhanh và ngược lại. Tóm lại quá trình phát triển bộ rễ có 4-5 đỉnh cao trong 1 năm, sinh trưởng lúc nhanh lúc chậm, xen kẽ với sự phát triển của bộ lá, lúc chậm lúc nhanh. Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000) [20], mặt khác sự phát triển của bộ rễ chè theo chiều sâu và chiều ngang phụ thuộc vào giống, tuổi chè, chất đất, chế độ canh tác và bón phân.
Bên cạnh đó, phương thức trồng chè cũng ảnh hưởng lớn đến sự phân bố hệ rễ chè, các biện pháp canh tác như bón phân, tưới nước, tủ đất.có khả năng điều tiết chế độ nước, nhiệt, dinh dưỡng trong đất nên cũng tác động đến độ sâu và chiều ngang hệ rễ. Đặc điểm sinh trưởng thân cành búp chè Thân và cành chè tạo nên khung tán của cây chè, nếu cây chè có bộ khung tán khỏe, các cành phân bố hợp lý là tiền đề cho năng suất cao. Vì vậy trong thực tế sản xuất cần nắm những đặc điểm sinh trưởng của cành chè áp e 7 dụng các biện pháp kỹ thuật đốn hái hợp lý góp phần tạo cơ sở cho việc tăng sản lượng thu hoạch. Búp chè là giai đoạn non của một cành chè.
Búp chè được hình thành từ các mầm dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non trên đỉnh chưa xòe) và 2 hoặc 3 lá non. Quá trình sinh trưởng của búp chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài lẫn bên trong, khối lượng búp thay đổi tùy theo giống. Vườn chè bón nhiều phân, búp sẽ lớn hơn vườn chè thiếu phân. Ngoài giống và phân bón, thì khối lượng búp chè còn phụ thuộc vào một số yếu tố kỹ thuật canh tác khác như đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt.
Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè và vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng 1. Nhu cầu dinh dưỡng Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến chua ít, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển tốt và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài. So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập. Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kì kinh tế dài thì cần phải bón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần đạt những yêu cầu : - pHKCl từ 4,0 – 6,0 - Đất có độ phì tốt - Độ sâu, tầng đất từ 60 – 100cm Độ ẩm cao, lượng mưa hàng năm trên 1.500 mm và phân bố tương đối đều từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 10, tháng 11.
Mối quan hệ giữa đất đến năng suất, phẩm chất chè rất phức tạp, phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định. Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có ở trong đất thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệu quả. Phân bón có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và năng suất chè. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều e 8 cho thấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50% – 60% tổng hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè.
Vai trò của một số nguyên tố dinh dưỡng - Đạm (N): Trong chè tập trung ở các bộ phận còn non như: Búp và lá non, N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein. Bón đủ N lá chè có màu xanh quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp, búp to. Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp. Nếu quá nhiều N thì hàm lượng tanin và cafein giảm, hàm lượng ancolit tăng, chè có vị đắng.
Nguồn cung cấp N cho đất là do quá trình khoáng hóa chất hữu cơ và mùn trong đất, do hoạt động cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con người bón vào đất… - Lân (P2O5): Trong búp non của chè có 1,5% P2O5. Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè. Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp. - Kali (K2O): Kali trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân cành và các bộ phận đang sinh trưởng.
Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất cho cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích lũy gluxit và axit amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm tăng khả năng chống chịu cho chè. Hàm lượng K2O trong đất phụ thuộc vào đá mẹ, điều kiện phong hóa đá, hình thành đất, chế độ canh tác và bón phân. - Magiê (Mg): Cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit nucleic. Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân, đường trong cây, giúp cây cứng chắc, phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè thành phẩm.
Thiếu magie cây xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, giảm năng suất.