Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ CƠ KIM KHÍ PHÙNG XÁ 1. Tổng quan về các làng nghề Việt Nam Làng nghề nông thôn đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển Việt Nam. Từ năm 1993 trở lại đây đã có khá nhiều nghề và làng nghề truyền thống được phục hồi và phát triển, nhiều làng nghề mới xuất hiện. Tuy nhiên, ở một số địa phương vì nhiều lý do nghề thủ công phát triển chậm.
Ví dụ, nghề thủ công ở Thừa Thiên Huế, trước đây đã từng có thời kỳ phát triển mạnh như nghề đúc kim loại, nghề gốm, nghề kim hoàn. trong các năm gần đây những nghề này phát triển chậm, phân tán, có nghề đang trong tình trạng bế tắc, có nghề không còn tồn tại. Cho đến nay, đã có số liệu thống kê về số lượng, loại hình của các làng nghề, làng nghề truyền thống và làng có nghề cũng như mật độ và phân bố trên quy mô toàn quốc nhưng chưa đầy đủ và toàn diện. Các làng nghề truyền thống phân bố không đồng đều giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc: tập trung chủ yếu tại những vùng nông thôn.
Đặc điểm của các làng nghề là diện tích chật hẹp, mật độ dân cư cao, hoạt động sản xuất theo quy mô công nghiệp, bán công nghiệp gắn liền với sinh hoạt nên các hậu quả của ô nhiễm môi trường khá lớn. Hiện nay, số lượng các làng nghề Việt Nam có xu hướng tăng; chất lượng sản phẩm cũng được chú trọng nên các áp lực tới môi trường từ hoạt động của làng nghề ngày một lớn. Hệ thống làng nghề ở Hà Nội được hình thành và phân bố tập trung hai bên tả hữu ngạn sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích. Theo điều tra của Tổng cục Thống kê (2012), Hà Nội hiện có 174 xã, 282 làng có nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong đó có 120 làng nghề đã được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) quyết định cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề.
Những huyện có nhiều làng nghề là Thường Tín 26 làng, Phú Xuyên 24 làng, Thanh Oai 20 làng, Quốc Oai 13 làng, Hoài Đức 10 làng, Chương Mỹ 9 làng, còn lại các huyện, thị khác có từ 2 đến 7 làng.[1] 5 Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề khoảng 160.000 người trong đó số lao động chuyên TTCN khoảng 16%, lao động kiêm TTCN khoảng 58%, lao động dịch vụ khoảng 5%, lao động thuần nông khoảng 21%. Nói chung các làng nghề ngoài thành Hà Nội đã đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Có nhiều làng nghề sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ, chế biến lương thực thực phẩm đã có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu. Mặt khác nhiều làng nghề khác sản xuất các mặt hàng truyền thống và các mặt hàng thông dụng cho tiêu thụ nội địa lại đang gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm gần đây, có khá nhiều các nghiên cứu về làng nghề, vấn đề môi trường làng nghề đang được nhiều người quan tâm và thực tế thì vấn đề này đang gây nhiều bức xúc và nan giải đối với kinh tế xã hội nói chung: Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường” của PGS.TS Đặng Kim Chi có đưa ra: "100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi. Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề".[2] Cùng tác giả, PGS.TS Đặng Kim Chi cùng các cộng sự nghiên cứu tại 3 làng nghề Bắc Ninh cho thấy môi trường xung quanh các làng nghề đã bị ô nhiễm trầm trọng.
Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ CO cao hơn 5 lần so với TCCP. Bụi ở khu vực dân cư có nồng độ cao hơn TCCP từ 1,3 đến 3 lần. CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA; tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: Không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 1,1 lần TCCP, bụi lớn hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 – 5 0C; làng nghề tái chế nhựa 6 Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 1h và 24h là 1- 4 lần và 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần. [3] Bên cạnh đó có nhiều nghiên cứu về sức khỏe làng nghề cho thấy tình trạng sức khỏe các làng nghề phía Bắc đều trong tình trạng báo động.
Tỷ lệ người lao động có phương tiện bảo hộ đạt TCVSLĐ thấp (22,5%); 100% các hộ sản xuất chế biến lương thực – thực phẩm nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cống rãnh. Nồng độ các chất khí gây ô nhiễm trong môi trường (H2S, NH3…) có đến 3/5; 1/5 mẫu không đạt yêu cầu. Tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp chiếm 34,7%, bệnh về da chiếm tới 37,3%. [4] Nhìn chung, đối với các làng nghề truyền thống, vấn đề ô nhiễm môi trường là điều không thể tránh.
Mỗi làng nghề có những điều kiện và thực tế khác nhau do đó nguồn gây ô nhiễm không giống nhau. * Tổng quan về làng nghề cơ khí Việt Nam Làng nghề tái chế phế liệu chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng). Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 về môi trường làng nghề Việt Nam, vấn đề ô nhiễm không khí ở các làng nghề tái chế phế liệu diễn ra khá nặng, môi trường không khí thường bị ô nhiễm bởi các thông số như bụi, SO2, CO, NOx,., hơi axit, kiềm, oxit kim loại (PbO, ZnO, Al2O3) và ô nhiễm nhiệt.
Hàm lượng bụi và SO2 trong không khí tại làng nghề tái chế kim loại [5] Về nước thải sản xuất tại làng nghề tái chế kim loại: tuy lượng nước thải không lớn nhưng chủ yếu chứa nhiều hoá chất độc hại như kim loại nặng (Zn, Fe, Cr, Ni…), dầu mỡ công nghiệp. Quá trình mạ bạc còn tạo ra muối Hg, xyanua, oxit kim loại, và các tạp chất khác. Đặc biệt, quá trình rửa bình ắc quy và nấu chì còn gây phát sinh nước thải chứa một lượng lớn chì. Nước thải của một số làng nghề có hàm lượng các kim loại nặng như Cr6+, Zn2+, Pb2+ lớn hơn từ 1,5 đến 10 lần QCCP [5].
Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải làng nghề cơ kim khí [5] N1: Cơ sở mạ thôn Rùa Hạ, Thanh Thùy – Thanh Oai, Hà Nội N2: Nước thải sản xuất thôn Rùa Thượng, Thanh Thùy – Thanh Oai, Hà Nội N3: Nước thải cơ sở mạ ông Tạ Quốc Túy, Đồng Xâm, Thái Bình 8 N4: Làng nghề đúc nhôm Vân Chàng, Nam Định Về chất thải rắn: có thành phần phức tạp, khó phân huỷ, lượng phát sinh khá lớn, khoảng 1-7 tấn/ngày. Lượng chất thải rắn của một số làng nghề tái chế kim loại [5] Ô nhiễm tại các làng nghề tái chế kim loại ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân trong khu vực. Theo thống kê trong Báo cáo môi trường quốc gia về làng nghề 2008 [5], làng nghề Văn Môn (Bắc Ninh) đúc nhôm, chì, kẽm với tỷ lệ các bệnh về hô hấp chiếm 44%, bệnh ngoài da chiếm 13,1%. Làng nghề sản xuất sắt Đa Hội (Bắc Ninh) có tỷ lệ người lao động bị mắc bệnh mãn tính tương đối cao (khoảng 29%).
Tỷ lệ người mắc bệnh đau, khô họng ở nghề đúc là 31,7% và nghề cán là 31%. Phần lớn cư dân trong làng nghề cơ khí Vân Chàng (Nam Định) mắc các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và phụ khoa, có tới 4,7% số người trong làng bị mắc bệnh lao phổi, 8,3% mắc bệnh viêm phế quản, đặc biệt số người chết vì ung thư ngày càng tăng và có trên 50% người lao động mắc các bệnh liên quan đến thần kinh. Giới thiệu về làng nghề cơ kim khí Phùng Xá 1. Điều kiện tự nhiên a.
Vị trí địa lý 9 Hình 1. Vị trí địa lý xã Phùng Xá 10 Vị trí làng nghề Hình 1. Vị trí làng nghề 11 Xã Phùng Xá nằm ở cuối huyện Thạch Thất về phía Tây Bắc Hà Nội, nơi có truyền thống công nghiệp - TTCN lâu đời, cách trung tâm huyện 7km, cách Hà Đông khoảng 25km về phía Đông Nam. Phía Tây Bắc giáp 3 xã Dị Nậu, Hữu Bằng, Bình Phú.
Phía Tây Nam giáp đường giao thông 419. Phía Đông Nam giáp xã Hoàng Ngô (huyện Quốc Oai). Phùng Xá có đường tỉnh lộ 419 liên tỉnh Hà Đông - Thạch Thất - Sơn Tây chạy qua, đồng thời nối liên với đường 32 Hà Nội - Sơn Tây nên rất thuận lợi cho lưu thông hàng hoá, phát triển kinh tế. Địa hình Địa hình xã Phùng Xá khá bằng phẳng, không có đồi núi, độ cao tuyệt đối từ 4,7 - 5,6m.
Địa hình không trũng nên chất ô nhiễm không bị tích tụ ở một chỗ mà bị phát tán. Mặt khác về nông nghiệp khá thuận lợi vì mưa nhiều sẽ ít bị ngập úng. Điều kiện khí tượng - thuỷ văn - Khí hậu: Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Hà Nội là sự tương phản giữa mùa đông và mùa hè, cả về tính chất phạm vi và cường độ các trung tâm khí áp, các khối không khí thịnh hành và hệ thống thời tiết kèm theo. Khí hậu Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh.
Khí hậu của xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất được quy định bởi những đặc trưng khí hậu của vùng đồng bằng Bắc Bộ: Nhiệt đới gió mùa nóng ẩm có mùa đông lạnh. - Chế độ thuỷ văn của xã Phùng Xá chịu ảnh hưởng chính của chế độ thuỷ văn sông Đáy và sông Tích có tác dụng lớn trong việc tiêu nước, góp phần giảm tải ô nhiễm do hoạt động sản xuất gây ra. Tài nguyên nước mặt khu vực nghiên cứu là một vài ao nhỏ nằm rải rác tại các hộ gia đình trong xã.