Mở đầu: 4 trang (từ trang 1 đến trang 4). Tổng quan tài liệu: 29 trang (từ trang 5 đến trang 33). Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu: 11 trang (từ trang 34 đến trang 44). Kết quả và bàn luận: 27 trang (từ trang 45 đến trang 71).
- Kết luận và đề nghị (gồm 2 trang từ trang 72 đến trang 73). - Có 23 bảng số liệu. - Có 14 hình ảnh và 4 biểu đồ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Nguồn gốc và phân bố cây điều Cây điều (Anacardium occidentale L.) là loài cây thuộc chi Anacardium, bộ cam (Rutales). Cây điều có nguồn gốc ở vùng Đông Bắc Brazil, thuộc Nam Mỹ, là loại cây mọc tự nhiên mục đích chính là để chống xói mòn đất. Ở Châu Á, từ vùng trồng khởi đầu là Ấn Độ cây điều được di giống lan rộng tới Indonesia và các nước Đông Nam Á khác. Sau khi phát hiện thấy giá trị của nó người ta bắt đầu trồng điều trên một diện tích lớn và biến nó trở thành một cây công nghiệp.
Theo Ohler (1979), có thể gặp cây điều ở điểm cực Nam của Hoa Kỳ 25 0 vĩ Bắc cho tới vùng Bắc Natal và Transvaal ở 24 0 vĩ Nam. Điều được trồng và sinh trưởng được ở nhiều nơi trên thế giới trong khoảng giới hạn từ 25 0 vĩ Bắc xuống 240 vĩ Nam, nhưng chỉ ra hoa, quả được ở giới hạn từ 15 0 vĩ Bắc đến 140 vĩ Nam. Độ cao tối đa có thể trồng điều tuỳ thuộc vào vĩ độ, ở 10 0 vĩ Nam, điều có thể sống ở độ cao 1000 m nhưng ở vĩ độ 250 với độ cao 200 m điều sinh trưởng rất kém. Độ cao so với mặt nước biển càng lớn, cây điều sinh trưởng càng kém, năng suất càng thấp [10].
Hiện nay đã có hơn 50 nước thuộc vùng nhiệt đới trên thế giới có trồng điều với diện tích lớn hoặc nhỏ, các nước trồng điều chủ yếu là Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Nigeria [23]. Việt Nam đang có sản lượng điều nhân xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới. Điều thường được trồng ở các tỉnh phía Nam nhất là các tỉnh vùng Tây Nguyên, DHNTB, Đông Nam Bộ và có một số ít trồng ở miền Tây. Hiện nay các tỉnh có diện tích trồng điều lớn nhất gồm Bình Phước, Đồng Nai, Đắk Lắk, Bình Thuận và Bình Định.
Giá trị của cây điều - Giá trị dinh dưỡng: Hạt điều có giá trị dinh dưỡng cao tương đương với đạm của đậu phộng, đậu nành, thịt, trứng và sữa. Trong thực tế người ta đã dùng hạt điều chế biến ra rất nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người [15]. Nhân hạt điều có chứa đa dạng các chất dinh dưỡng khác nhau, trong đó hàm lượng chất béo chiếm tới 44,9 %, tinh bột chiếm 19,82%, đường là 13,48 %, ngoài ra còn có chứa 2,49% là canxi, photpho, sắt và các loại vitamin như B1, B2, D, E, PP,…. Nhân hạt điều có thể chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như điều rang, bánh kẹo nhân điều.
Từ nhân điều người ta có thể ép ra dầu ăn là sản phẩm có giá trị [23]. Trái điều chứa nhiều nước 86 - 87% và các chất khác như khoáng 0,48%, đạm 0,8%, đường 7,5%, tanin 0,45% v.v… ngoài ra trái điều có chứa nhiều các vitamin nhất là vitamin B2 và vitamin C [15]. - Giá trị y học: Dầu ăn ép từ nhân hạt điều là thức ăn lành, hạn chế và chữa được nhiều loại bệnh hiểm nghèo như chảy máu não, xơ cứng động mạch, huyết áp, thần kinh [23]. Lá điều có thể chữa bệnh mất ngủ, phong lở, bỏng lửa rất mau lành da.
Rễ cây điều dùng làm thuốc chống nôn, thuốc xổ mạnh. Vỏ cây điều chứa nhiều ta nanh, chiết xuất để dùng trong công nghệ thuộc da hoặc làm mực không phai, thuốc nhuộm, chữa bệnh đau cổ, tiêu chảy, táo bón. Nhựa điều làm chất sát trùng, keo dán. - Giá trị kinh tế: Sản phẩm chính lấy từ cây điều là nhân hạt điều có giá trị xuất khẩu cao.
Tiếp theo là dầu vỏ điều được dùng làm nguyên liệu cho công e 7 nghiệp sơn, chế tạo hóa chất. Trái điều là một sản phẩm phụ cũng có giá trị bổ dưỡng cao, được dùng để làm nước giải khát, chế biến thành rượu, xirô, mứt. Gỗ điều khá cứng, có thể sử dụng làm gỗ gia dụng, ván ép, làm nguyên liệu giấy [15], [23]. Theo Hoàng Sĩ Khải, Nguyễn Thế Nhã (1995), dầu vỏ hạt điều được chiết từ vỏ hạt, có màu nâu, đặc, dính, mùi hăng.
Dầu vỏ điều có giá trị cao và được dùng nhiều trong các ngành công nghiệp quan trọng. Từ dầu vỏ hạt điều có thể chế biến thành vecni, một số loại sơn cao cấp, làm hương liệu mỹ phẩm, thuốc trừ sâu [23]. Điều là cây bảo vệ môi trường sống tốt, có vai trò phủ xanh đất trống, đồi núi trọc rất lớn, có thể mọc được ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt như đất cát, đất đồi núi đang bị hoang mạc hoá và thoái hóa đất. Theo Tạ Minh Sơn (1999) [25], điều là cây xóa đói, giảm nghèo, tăng việc làm cho người lao động, cần ít vốn đầu tư nên phù hợp với điều kiện sản xuất và kinh tế của đại đa số nông dân; là cây không kén đất nên đã trở thành cây trồng của người nghèo.
Đặc điểm hình thái của cây điều 1. Rễ Điều là cây vừa có rễ cọc, vừa có hệ rễ ngang. Khi trồng nơi đất tơi xốp thì chỉ cần sau 2 đến 3 tháng cây đã có thể cắm sâu xuống 80 cm, sau khi trồng được 5 đến 6 tháng cây đã có thể ăn sâu vào đất tới 2 m. Tùy vào loại đất và khả năng sinh trưởng của cây, bộ rễ của cây điều có thể ăn sâu hàng chục mét và có thể lan rộng ra bán kính tán từ 50 đến 60 cm.
Chính vì vậy mà cây có khả năng chịu hạn rất tốt, có thể sinh trưởng bình thường trong mùa khô, không có nước từ 5 đến 6 tháng [50]. Thân Điều là cây thân gỗ lâu năm thường cao từ 6 - 8 m; ở nơi đất tốt và gặp điều kiện thuận lợi cây có thể cao tới 10 - 15 m và đường kính thân cây đoạn gốc có thể đạt đến 40 - 50 cm. Điều có thân thấp, cành nhánh rậm rạp, sinh trưởng quanh năm và mạnh nhất trong mùa mưa. Điều bắt đầu phân cành ở gần mặt đất, các cành thấp nằm ngay sát mặt đất và ở các cây điều lớn tuổi, các cành thấp có thể bò trên mặt đất một khoảng xa và đôi khi mọc rễ, do đặc tính này cây có thể chống xói mòn đất [10].
Lá Điều là loại cây có lá đơn, nguyên, hình thuỗn hay hình trứng, đuôi lá thường hơi tròn. Lá có chiều dài 10 - 20 cm, rộng 5 - 10 cm, cuống lá dài 0,5 - 1,0 cm. Lá điều non màu xanh nhạt hoặc đỏ, khi già sẽ xanh sẫm lại. Thời gian để một chiếc lá đạt đến màu xanh lục trưởng thành là 20 ngày kể từ khi chồi lá xuất hiện (Nguyễn Thanh Phương, 2007) [23].
Cây điều có bộ lá thường tập trung ở đầu cành, phiến lá khá dày với những đường gân nổi rõ, đặc biệt là mặt dưới các đường gân nổi bật lên. Bộ tán của cây điều thường rất rộng, khi cây trưởng thành và phát triển thành thục trong điều kiện sinh trưởng thuận lợi thì bộ tán có thể rộng đến 5 m tính từ gốc, thông thường một cây điều trưởng thành thường có bộ tán chiếm diện tích lên tới 50 đến 60 m2 khi cây đạt 6 đến 7 năm tuổi [50]. Hoa Cây điều thường ra hoa vào lúc kết thúc mùa mưa chuẩn bị chuyển sang mùa khô. Hoa điều có cả hoa đơn tính và hoa lưỡng tính.
Hoa mọc thành từng e 9 chùm, mỗi chùm có khoảng từ vài chục hoặc hàng trăm hoa. Chùm hoa xuất hiện ở cuối đỉnh chồi cành mới, do đó quả thường nằm ở vị trí ngoài tán lá. Hoa điều nhỏ, đài hợp với 5 cánh rời. Lúc mới nở cánh hoa màu trắng hoặc vàng nhạt có sọc đỏ, sau đó chuyển dần sang màu hồng sẫm.
Hoa điều có hai loại: hoa đực và hoa lưỡng tính trong cùng một chùm hoa, có 1 - 10 hoa lưỡng tính/nhánh, bình quân hoa lưỡng tính là 1/8 và có thể cao hơn. Hoa thường chỉ thụ phấn bằng côn trùng hoặc gió. Hoa thường nở vào buổi sáng, tuy nhiên nếu trong lúc hoa đang nở mà xuất hiện mưa thì bao phấn sẽ không thể nứt ra để phấn rớt vào nên quá trình thụ phấn sẽ không xảy ra khiến mất mùa [50]. Quả (quả giả) Sau khi thụ phấn thành công thì trái thật của quả điều (chính là hạt điều) sẽ phát triển kích thước rất nhanh.
Trong vòng 1,5 tháng là có khả năng đạt kích thước tối đa. Từ đó quả không bắt đầu phát triển nữa mà chuyển sang phình to phần cuống quả thành quả giả. Trái giả thường chiếm trọng lượng rất lớn, tới 90% do phần cuống quả phình to có hình quả lê, trọng lượng quả giả thường từ 45 đến 60 g. Quả to hơn hạt 5 - 10 lần và thường đạt tỷ lệ là 1:8 [23], [50].
Quả non có màu nâu lục hay màu hồng về sau trở thành lục, khi chín quả điều thường có màu đỏ hoặc màu vàng. Quả chín rất mọng nước, hơi có xơ và vỏ ngoài mỏng dễ bị dập, khi đã chín hoàn toàn quả rụng xuống đất và có thể bị dập. Quả chín có mùi đặc biệt, chứa 85% nước cốt, hàm lượng đường khoảng 10% và đa số là đường khử. Nước quả hơi chát do chất tanin.
Trái điều vàng thường lớn hơn và có hàm lượng đường cao hơn điều đỏ. Quả điều còn có nhiều vitamin, protein, khoáng chất., hàm lượng vitamin C ở điều cao hơn gấp 5 - 7 lần trong quả cam chanh [23], [50]. Ohler (1979), thì hạt điều có dạng hình thận, khi còn non có màu xanh, khi chín khô chuyển sang màu nâu hoặc xám hồng. Các giống điều khác nhau có kích thước, khối lượng hạt, nhân và vỏ khác nhau.
Có giống hạt lớn nặng 10 - 13 gam, có giống hạt nhỏ chỉ 3 - 4 gam. Kích thước cũng như khối lượng hạt điều thay đổi từ cây này đến cây khác, từ giống nọ đến giống kia và là những chỉ tiêu quan trọng trong chất lượng thương phẩm xuất khẩu [10]. Thành phần chính của hạt: dầu vỏ chiếm 20 - 22%, lớp vỏ lụa chỉ chiếm khoảng 5%, nhân hạt (phôi hạt) chiếm tỷ lệ 20 - 25% khối lượng hạt, là bộ phận quan trọng nhất của cây điều để chế biến thực phẩm, còn lại là vỏ hạt [23].