ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong số các cây trồng chủ yếu trên thế giới. Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực phổ biến và quan trọng nhất đối với người dân châu Á. Việt Nam là một nước nông nghiệp trên 75% dân số sống phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính. Báo cáo thống kê về sản xuất nông nghiệp năm 2017 của Tổng cục thống kê cho thấy, diện tích lúa cả năm 2017 đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016; năng suất cả năm 2017 đạt 55,5 tạ/ha và sản lượng ước đạt 42,84 triệu tấn.
Như vậy, sản suất lúa gạo vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong nông nghiệp. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), những năm gần đây trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn gạo, thu khoảng 3,5 tỷ USD. Có được thành tích to lớn như vậy phải kể đến sự đóng góp quan trọng của khoa học đó là các giống lúa mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp. Từ Sơn là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Ninh, là đô thị vệ tinh của Thủ đô Hà Nội và là một trong hai trung tâm kinh tế - văn hóa - giáo dục của tỉnh Bắc Ninh.
Từ Sơn có diện tích tự nhiên là 6.292,7 ha đất nông nghiệp. Trong đó diện tích trồng lúa là 2.295,5 ha, chiếm 82,2% diện tích đất nông nghiệp, sản lượng cả năm đạt 24.477 tấn, năng suất trung bình cả năm đạt 53,3 tạ/ha (Niên giám thống kê Bắc Ninh, 2015). Năm 2016 tổng diện tích trồng lúa đạt 4341 ha/năm, sản lượng đạt 23.559 tấn, năng suất trung bình cả năm đạt 54,3 tạ/ha (Sở NN và PTNT Bắc Ninh, 2/2017). Năng suất và sản lượng lúa của Từ Sơn những năm gần đây có tăng so với mức trung bình các vùng khác ở miền Bắc nhưng do một phần đất lúa được chuyển đổi sang một số loại cây trồng khác và quá trình đô thị hóa, mở rộng khu công nghiệp nên xu hướng diện tích trồng lúa đang thu hẹp.
Bên cạnh đó đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng tăng lên đòi hỏi sản xuất nông nghiệp cần đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng ngày càng cao. Thực tế đó đặt ra thách thức không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp. Vì vậy tăng năng suất, sản lượng và chất lượng lúa là yêu cầu cấp bách để đảm bảo được an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững của Từ Sơn. 1 Những năm gần đây, các giống lúa mới đã được đưa vào sản xuất để nâng cao sản lượng lúa gạo của Từ Sơn.
Tuy nhiên, nhiều giống lúa mới có năng suất cao nhưng phẩm chất gạo thấp. Một số giống có chất lượng gạo khá nhưng năng suất không cao. Nhiều giống lúa được trồng phổ biến lại có thời gian sinh trưởng dài, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận kém như các giống Thiên Ưu 8, BC15, Khang Dân, Xi 23, CR203… Mỗi giống lúa lại thích ứng trên mỗi tiểu vùng sinh thái khác nhau, yêu cầu từng loại phân bón khác nhau nhưng nông dân thường áp dụng chung kỹ thuật canh tác. Ngoài ra, lạm dụng bón đạm, thuốc bảo vệ thực vật… cũng diễn ra phổ biến nên không chỉ năng suất và chất lượng lúa gạo không cao mà còn làm tăng mức độ sâu bệnh hại và gây ô nhiêm môi trường…Vì vậy, nghiên cứu đưa các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất khá, đặc biệt là các giống lúa có chất lượng gạo cao để bổ sung vào cơ cấu giống lúa; kết hợp với sử dụng chế độ bón phân hợp lý để nâng cao sản lượng và giá trị lúa gạo của Từ Sơn là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của liều lượng đạm đến một số giống lúa thuần tại Từ Sơn, Bắc Ninh”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đề tài nhằm mục đích xác định được đặc điểm sinh trưởng lượng và đạm bón phù hợp nhất cho mỗi giống lúa thuần khi canh tác ở vụ xuân trên đất Từ Sơn, Bắc Ninh. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển và mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất của 5 giống lúa thuần trồng tại Từ Sơn, Bắc Ninh. - Xác định được ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất của 5 giống lúa thuần trồng tại Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Đề xuất được lượng đạm bón phù hợp nhất cho mỗi giống lúa khi canh tác ở vụ xuân trên đất Từ Sơn, Bắc Ninh. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học - Các kết quả thu được của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về cây lúa. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở để lựa chọn được giống lúa có chất lượng phù hợp, bổ sung vào cơ cấu giống lúa của Từ Sơn.
- Kết quả của đề tài sẽ khuyến cáo liều lượng đạm phù hợp để thâm canh lúa trên đất Từ Sơn, Bắc Ninh. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Đề tài sử dụng nguồn vật liệu là 5 giống lúa thuần thuộc nhóm ngắn ngày, được thu thập từ các nguồn lai tạo trong nước và nhập nội. - Đề tài nghiên cứu về đặc điểm nông, sinh học, tiềm năng cho năng suất, chất lượng, tính chống chịu sâu, bệnh; khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái tại Từ Sơn, Bắc Ninh của 5 giống lúa thuần. - Thí nghiệm được thực hiện vụ Xuân 2017.
- Các thí nghiệm được bố trí tại địa điểm Phường Tân Hồng, Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất lúa trên Thế Giới Lúa được trồng từ vùng xích đạo 500 vĩ bắc đến 350 vĩ nam.
Lúa có thể trồng trên các loại đất cát đến vùng đất sét, có độ pH từ 3 – 10, hàm lượng chất hữu cơ từ 1 – 50%. Hiện nay, trên thế giới có 114 nước sản xuất phân bố trên tất cả các châu lục nhưng tập trung lớn nhất là châu Á với 30 nước trồng lúa, chiếm 89,7% diện tích lúa toàn thế giới. Lúa là loài cây lương thực có sản lượng đứng hàng thứ ba trên thế giới sau ngô và lúa mì và gạo lại là lương thực chính cho khoảng một nửa dân số thế giới trong tất cả các thời kỳ lịch sử. Từ năm 2008 đến năm 2016 tình hình sản xuất lúa trên thế giới có nhiều biến động (Bảng 2.1), nhưng nhìn chung ngày càng giảm về diện tích nhưng tăng về năng suất và sản lượng.
Năm 2008 diện tích sản xuất đạt 160,0 triệu ha tăng lên năm 2012 là 162,3 triệu ha nhưng sau đó diện tích giảm dần đến năm 2016 còn 159,8 triệu ha trong khi đó năng suất và sản lượng tăng dần theo thời gian. Năm 2008 năng suất đạt 42,9 tạ/ha, sản lượng đạt 687,4 triệu tấn nhưng đến năm 2016 năng suất tăng đạt 46,4 tạ/ha, sản lượng đạt 741,0 triệu tấn. Như vậy tuy diện tích sản xuất giảm nhưng năng suất và tổng sản lượng lúa trên thế giới vẫn tăng, cho thấy vai trò quan trọng của khoa học kỹ thuật về cải tiến giống, kỹ thuật canh tác, phân bón, bảo vệ thực vật… Bảng 2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2008 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2008 160,0 42,9 687,4 2009 157,9 43,4 686,2 2010 161,6 43,9 701,2 2011 162,7 43,6 721,6 2012 162,3 45,1 733,0 2013 166,2 44,9 739,1 2014 162,7 45,6 741,4 2015 160,8 46,0 740,1 2016 159,8 46,4 741,0 Nguồn: FAOSTAT (2018) 4 Tình hình sản xuất lúa và tổng sản lượng lúa của các nước trồng lúa chính trên thế giới có nhiều biến động.2 ta thấy sản lượng lúa tăng dần qua các năm từ năm 2008 đến năm 2016 sản lượng lúa của Châu Á tăng 7,05 %, Châu Mỹ tăng 0,84 %, Châu Phi tăng 33,2%, Châu Âu tăng 20,0%, trên thế giới tổng sản lượng cao nhất là Châu Á chiếm 90,1% (năm 2016 là 667,9 triệu tấn), trong đó đứng đầu là Trung Quốc (năm 2016 là 211,0 triệu tấn), thứ 2 là Ấn Độ và Việt Nam đứng thứ 3 với tổng sản lượng năm 2016 là 43,4 triệu tấn.
Sản lƣợng lúa một số nƣớc và khu vực trên thế giới qua các năm (triệu tấn) Quốc gia 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Châu Á 623,9 620,7 633,8 653,3 663,2 668,9 667,0 668,0 667,9 Trung Quốc 193,3 196,7 197,2 202,7 205,9 205,2 208,2 209,8 211,0 Ấn Độ 148,0 135,7 143,9 157,9 157,8 159,2 157,2 156,5 158,8 Việt Nam 38,7 38,9 40,0 42,3 43,7 44,0 44,9 45,1 43,4 Thái Lan 31,6 32,1 34,4 36,1 38,0 36,8 32,6 27,7 25,3 Philippines 16,8 16,3 15,8 16,7 18,0 18,4 18,9 18,1 17,6 Nhật Bản 11,0 10,6 10,6 10,5 10,7 10,8 10,5 9,98 8,1 Malaysia 2,4 2,5 2,5 2,6 2,6 2,6 2,7 1,7 2,3 Châu Mỹ 35,7 37,7 36,3 36,9 36,1 35,9 38,1 37,1 36,0 Brazil 12,,1 12,7 11,2 13,5 11,4 11,8 12,1 12,3 10,6 Hoa Kỳ 9,2 9,9 11,0 8,4 9,1 8,6 10,0 9,6 9,4 Châu Phi 24,4 23,5 26,5 26,3 28,4 28,4 30,8 30,1 32,5 Ai Cập 7,3 5,5 4,3 5,7 5,9 5,7 5,5 4,8 6,3 Nigeria 4,2 3,5 4,5 4,6 5,4 4,8 4,8 6,3 6,1 Châu Âu 3,5 4,2 4,3 4,4 4,4 4,8 4,7 4,1 4,2 Thế giới 687,4 686,2 701,2 721,6 733,0 739,1 741,4 740,1 741,0 Nguồn: FAOSTAT (2018) Châu Á là khu vực sản xuất lúa chính trên thế giới (khoảng 90,1% sản lượng) nhưng cũng là khu vực tiêu thụ lúa chính trên thế giới (khoảng 90% lượng gạo tiêu thụ). Gạo là nguồn lương thực chính của dân Châu Á và số lượng tiêu thụ ngày càng tăng do dân số tăng nhanh và tăng mức thu nhập. Theo dự đoán của chuyên gia dân số thế giới thì dân số thế giới đến năm 2030 là 8,47 tỷ người. Cứ trung bình 1 tỷ dân sẽ tiêu thụ 65 triệu tấn gạo (tương đương 100 triệu tấn thóc).
Năm 2035, tổng sản lượng thóc phải tăng thêm so với bây giờ là 114 triệu tấn. Năng suất trung bình có xu hướng đứng lại (hoặc tăng rất chậm). Nhưng có 3 5 điều đáng lo: đất lúa mất dần, người lao động trồng lúa giảm dần, nước tưới cho lúa thiếu, khiến cho mục tiêu tăng thêm 114 triệu tấn: trở nên vô cùng khó khăn.